Trang chủ

Khoa học - Công nghệ

Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước: Dấu ấn những kết quả khoa học

author 07:00 29/09/2016

(VietQ.vn) - Chặng đường Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011-2015 đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, bên cạnh đó còn tồn tại những hạn chế.

Sự kiện: Hoạt động Khoa học & Công nghệ

 Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước 2011-2015 đạt những thành tựu đáng kể. Ảnh Tiền Phong

TS. Nguyễn Thiện Thành, Giám đốc Văn phòng Các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ KH&CN cho biết, mỗi chương trình đều có một số kết quả nổi bật ở một trong những mặt như: khẳng định trình độ khoa học công nghệ ở một ngành hoặc một lĩnh vực; lợi ích kinh tế, xã hội mang lại và nâng cao hoặc đóng góp vào việc nâng cao tiềm lực KH&CN của đất nước.

Thành công của chương trình KH&CN trọng điểm

Trong lĩnh vực phát triển công nghệ

1. Công nghệ sản xuất vắc xin rota sống, uống giảm độc lực sau nhiều năm nghiên cứu đã được hoàn thiện ở qui mô công nghiệp (đạt giải thưởng nhân tài đất việt 2014). Công nghệ này đã giúp cho Việt Nam chủ động sản xuất vắc-xin dự phòng (ước tính khoảng 3 triệu liều/năm) với giá thành chỉ bằng 1/3 giá vắc xin ngoại (hãng GSK –Bỉ). Việc sản xuất thành công vắc xin này cũng đã khẳng định vị trí thứ 2 của Việt Nam tại Châu Á và là một trong bốn nước trên thế giới (sau Mỹ, Bỉ, Trung Quốc) tự sản xuất được vắc-xin Rota với công nghệ tiến tiến của thế giới (Chương trình KC.10).

2. Quy trình ghép khối thận - tụy từ người chết não là kỹ thuật tiên tiến trên thế giới được thực hiện sau những thành công của y học Việt Nam trong kỹ thuật ghép đơn tạng. Việc các nhà khoa học thực hiện thành công ca đầu tiên ghép thận tụy lấy từ người chết não đánh dấu một bước phát triển nữa của Y học Việt Nam trong lĩnh vực ghép đa tạng đặc biệt là việc lấy tạng từ người chết não. Thành công này không chỉ  khẳng định mạnh mẽ sự tiến bộ của ngành y tế Việt Nam mà còn góp phần hiện thực hóa Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đi vào cuộc sống(Chương trình KC.10).

3. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi trong điều trị một số bệnh lý tuyến giáp(đạt giải thưởng nhân tài đất việt 2014)có ưu điểm hơn so với kỹ thuật đang thực hiện tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Với việc bơm khí CO-2 tạo khoang làm việc vào tuyến giáp bằng đường biên các nhà khoa học đã loại bỏ những tổn thương nhưng không để lại sẹo vùng cổ đầu. Kỹ thuật này đến nay đã được thực hiện thành công trên 80 bệnh nhân). Khoảng 15 giáo sư và hơn 200 phẫu thuật viên các nước Đông Nam Á và trong nước đã đến học tập kỹ thuật này sau khi nhóm nghiên cứu thực hiện các ca phẫu thuật trình diễn tại các trường đại học của Thái Lan, Philippin, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ (Chương trình KC.10).

4. Công nghệ gắn kháng thể đơn dòng với 02 đồng vị phóng xạ I131 và Y90 (dùng để tạo ra 2 dược chất điều trị đích cho các bệnh ung tư đầu cổ) là một công nghệ rất mới trên thế giới mà không nhiều các phòng thí nghiệm thực hiện thành công. Các nhà khoa học đã sử dụng thành công nghệ này tạo ra được 02 dược chất phóng xạ dùng trong điều trị bệnh ung thư trong vùng đầu cổ. Việc sản phẩm dược chất đã được thử nghiệm thành công trong phòng thí nghiệm minh chứng cho khả năng làm chủ công nghệ. Hiện nay, dược chất đang được nghiên cứu tinh chế để đưa vào thử nghiệm lâm sàng Ấn Độ (Chương trình KC.05).

5. Quy trình công nghệ nhân giống cây và sản xuất củ giống khoai tây sạch bệnh bằng công nghệ khí canh đã được nâng cấp lên quy mô công nghiệp. Với công nghệ này nhiều địa phương có thể sản xuất ra củ giống sạch bệnh đạt chất lượng đạt tiêu chuẩn 10 TCN 316-2003 và cơ hội tốt để xây dựng được mô hình sản xuất củ giống quy mô hàng trăm hecta với giá thành cạnh tranh với giá giống nhập ngoại. Đến nay quy trình nhân giống này đã và đang chuyển giao cho các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Lào Cai, Phú Thọ, Bắc Giang và một đơn vị của Bộ KHCN Indonesia (Chương trình KC.04).

6. Hệ thống cảnh báo lũ lụt trực tuyến được xây dựng dựa trên sự tích hợp của CNTT và thiết bị truyền thông không quá phức tạp nhưng đã mang lại hiệu quả rất lớn về mặt kinh tế xã hội. Hệ thông này cung cấp cho người dân, chính quyền địa phương các thông tin hữu ích, chính xác về tình trạng lũ lụt trên các lưu vực sông, qua đó hỗ trợ cho việc ra quyết định di tản người dân, tài sản một cách chủ động. Ngay sau khi được kiểm chứng trên lưu vực sông Vu gia –Thu Bồn, hệ thống đã được Ủy ban phòng chống lụt bảo Trung ương chấp nhận và cho triển khai lắp đặt 2 hệ thống cho các lưu vực sông tại miền trung nhằm giảm thiểu những thiệt hại do lũ lụt gây ra (Chương trình KC.01).

7. Giống lúa OM9915, Giống lúa OM121, Giống lúa OM9918 với chất lượng gạo tốt có khả năng chịu mặn, chịu phèn đang được thử nghiệm tại 10 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long với qui mô lên đến trên 1000 ha. Giống lúa thuần siêu cao sản (năng suất 9,5-10 tấn/ha cho vụ xuân): Gia Lộc 201; Gia Lộc 202 và NPT3 đã được thử nghiệm và cho kết quả rất tốt tại 9 tỉnh miền Bắc. Hiện các giống này đang chờ các thủ tục để được công nhận là giống sản xuất thử (Chương trình KC.06).

Lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn

1. Đóng góp vào việc hoạch định chính sách: các kết quả nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổng kết được 03 báo cáo lớn gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng nhằm đóng góp các kiến nghị có tính khoa học và thực tiễn theo yêu cầu của Tổng Bí thư, cụ thể: Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Báo cáo kiến nghị tổng kết thực tiễn Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Bảo vệ Tổ quốc và Trung ương ra Nghị quyết mới về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"; Kiến nghị về tập đoàn kinh tế nhà nước; Mô hình một nước công nghiệp theo hướng hiện đại của nước ta năm 2020 (các chương trình KX.01; KX02; KX03).

2. Đóng góp về phương diện lý luận: Các nghiên cứu đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm trong 30 năm đổi mới trong sác chuyên khảo có giá trị khoa học: “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới” (Chương trình KX04).

 TS Nguyễn Thiện Thành - Giám đốc Văn phòng Các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ KH&CN

 Đánh giá bước tiến và hạn chế

So với trình độ trên thế giới, các nhà khoa học của Việt Nam cũng đang dần lớn mạnh.

TS. Nguyễn Thiện Thành, Giám đốc Văn phòng Các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ KH&CN cho rằng, với việc thành công thành công ghép ở ca ghép khối tụy, thận từ người chết não trong Chương trình KC10 lần này chúng ta đã chấm dứt sự tụt hậu 48 năm so với thế giới.

Việc sản sản xuất thành công vắc xin Rota chống tiêu chảy quy mô công nghiệp chứng minh trình công nghệ của chúng ta. Việt Nam là nước thứ tư trên thế giới (là nước thứ 2 ở Châu á) sản xuất được vắc xin này. Thuốc đã được Trung tâm kiểm soát và phòng dịch Hoa Kỳ (CDC) kiểm định tính an toàn và hiệu lực.

 Sản xuất thành công vắc xin Rota chống tiêu chảy quy mô công nghiệp là công nghệ tiêu biểu trong lĩnh vực y tế. Ảnh minh họa

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi trong điều trị một số bệnh lý tuyến giáp mà các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu có ưu điểm hơn so với kỹ thuật đang thực hiện tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Đã có Khoảng 15 giáo sư và hơn 200 phẫu thuật viên các nước Đông Nam Á và Thái Lan, Philippin, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ đến học tập kỹ thuật này.

Công nghệ gắn kháng thể đơn dòng với 02 đồng vị phóng xạ I131 và Y90 (dùng để tạo ra 2 dược chất điều trị đích cho các bệnh ung tư đầu cổ) là một công nghệ rất mới trên thế giới mà không nhiều các phòng thí nghiệm thực hiện thành công.

TS. Nguyễn Thiện Thành, khẳng định, “Không có một việc gì là hoàn hảo 100%. Việc thực hiện các chương trình trọng điểm lớn như vậy (với sự tham gia của trên 5300 cán bộ khoa học trong đó có khoảng trên 4000 cán bộ có trình độ thạc sỹ trở lên thuộc trên 1200 cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp) và trong cơ chế luôn có sợ đổi mới thì việc phát sinh nhưng bất cập từ đó tạo ra nhưng hạn chế của chương trình là chuyện bình thường”.

Một số hạn chế còn tồn tại không thể tránh khỏi trong Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước như:

Việc phối hợp quản lý của nhiều cơ quan chủ trì với các chủ nhiệm đề tài, dự án chưa thật tốt. Vì vậy, mà tiến độ của nhiều nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Có tới 30% số nhiệm vụ trong các chương trình buộc phải gia hạn thời gian thực hiện. Một số nhiệm vụ phải gia hạn đến 2 lần.

Việc đầu tư giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ trong các chương trình còn tương đối dàn trải chưa thực sự tập trung. Theo quyết định phê duyệt khung của các chương trình, 10 chương trình KC có 45 nội dung (ít hơn giai đoạn trước 9 nội dung); 5 chương trình KX có 27 nội dung.

Đa số các đề tài, dự án chủ yếu tập trung vào giải quyết từng vấn đề cụ thể của sản xuất. Chưa có nhiều các nhiệm vụ hướng vào những vấn đề có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và phạm vi ứng dụng rộng rãi. Do đó tất cả các đề tài đều có địa chỉ ứng dụng nhưng sức lan tỏa của nhiều kết quả chưa cao. Vì vậy, tầm ảnh hưởng của các chương trình còn hạn chế.

Cơ chế quản lý các chương trình (từ khâu xác định nhiệm vụ đến việc thanh lý các hợp đồng nghiên cứu) tuy đã được cải tiến rất nhiều nhưng vẫn còn có nhiều bất cập so với thực tiễn. Việc xác định nhiệm vụ hoặc lựa chọn tổ chức cá nhân chủ trì chưa thật sát với thực tế hoặc sự chậm trễ trong việc giao dự toán kinh phí có thể là những nguyên nhân cơ bản dẫn việc trong các chương trình trọng điểm đã có tới 13 nhiệm vụ đã phê duyệt kinh phí nhưng không triển khai thực hiện.

Số lượng các sáng chế, giải pháp hữu ích được công nhận từ kết quả của các nhiệm vụ KH&CN còn hạn chế. Ngoài yếu tố khách quan về thời gian (thời gian được cấp giấy chứng nhận sáng chế và giải pháp hữu ích từ khi chấp nhận đơn đến khi được cấp là 18 tháng) yếu tố chủ quan do nhận thức về quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu chưa được đặt đúng tầm quan trọng và khai thác hết các thủ tục rút ngắn của quy trình làm hồ sơ và đăng ký của nhiều chủ nhiệm đề tài, dự án.

Cơ chế tài chính cho hoạt động của các chương trình được cải tiến một bước nhưng vẫn chưa theo kịp được với thực tế. Một số qui định về đấu thầu nguyên vật liệu, thiếu kinh phí dự phòng chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu.

Nguyên nhân của những bất cập nói trên thì có rất nhiều có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Có những thuộc tầm vĩ mô mà người ta vẫn hay nói là tại cơ chế. Có những nguyên nhân là thuộc về nhận thức như tôi đã nói ngay trong phần bất cập như: Cơ chế đấu thầu nguyên vật liệu muốn bỏ nhưng rất khó vì đó là yêu cầu của quản lý để tránh thất thoát ngân sách; nhận thức về quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học chưa được đặt đúng tầm quan trọng và khai thác hết các thủ tục rút ngắn của quy trình làm hồ sơ và đăng ký làm cho số lượng các đăng ký chưa được như mong muốn; hay như sự quan tâm phối hợp của và thủ trưởng cơ quan thực hiện và các các nhà khoa học chủ trì nhiệm vụ được giao chưa tốt nên tiến độ và chất lượng của một số nhiệm vụ chưa cao.

Đức Mậu (T/h)

Tai nạn thang máy: Những dấu hiệu nguy hiểm trong thang chớ bỏ qua(VietQ.vn) - Cảnh báo thang máy được gắn ở cửa ra vào nhưng ít người để ý dẫn đến những nguy cơ gây nguy hiểm tới tính mạng cho người sử dụng.
Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang