Trang chủ

Khoa học - Công nghệ

Đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực ngành hạt nhân

author 07:32 29/11/2014

(VietQ.vn) - Lịch sử phát triển điện hạt nhân của thế giới cho thấy vấn đề nhân lực, trình độ, vấn đề con người là quan trọng nhất trong đảm bảo an toàn và kinh tế cho điện hạt nhân.

Sự kiện: Phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam

Các sự cố lớn trong ngành hạt nhân (Three Miles Island, Chernobyl, hay Fukushima) đều cho thấy yếu tố con người là nguyên nhân chính của các tai nạn hạt nhân. Như vậy, để có thể thực hiện thành công chương trình điện hạt nhân, Việt Nam phải thực hiện chiến lược, nhiệm vụ đào tạo nhân lực ngành điện hạt nhân như thế nào? Đó là băn khoăn và là chủ đề được đề cập và phân tích trong bài viết này.

Sau gần 40 năm phát triển ngành năng lượng nguyên tử, với sự ưu tiên tập trung vào ngành vật lý hạt nhân, hiện nay, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của ngành tập trung chủ yếu vào 3 đơn vị năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ là Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (với khoảng 800 cán bộ), Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (khoảng 90 cán bộ) và Cục Năng lượng nguyên tử (khoảng 30 cán bộ). Tại Bộ Công thương (Tổng cục Năng lượng) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), số lượng cán bộ có chuyên ngành về hạt nhân hoặc liên quan không nhiều (EVN có khoảng 100 cán bộ làm việc tại Ban Quản lý dự án điện hạt nhân Ninh Thuận). Ngoài ra, các trường đại học có một số cán bộ giảng dạy, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào vật lý hạt nhân và kỹ thuật hạt nhân, trong khi đội ngũ cán bộ giảng dạy các ngành liên quan khác (như nhiệt, cơ khí …) lại không có đủ kiến thức và kinh nghiệm về hạt nhân. Với lực lượng cán bộ như vậy, trong khi việc triển khai 2 dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận đang vào thời kỳ hoàn thành Nghiên cứu khả thi (FS), cũng như các nhiệm vụ liên quan đến nghiên cứu công nghệ, thiết kế cơ sở nhà máy điện hạt nhân v.v. đang đòi hỏi thì rõ ràng các nhiệm vụ đặt ra sẽ là bài toán vô cùng hóc búa.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với bất kỳ nước nào phát triển điện hạt nhân, nguồn nhân lực phải có đầy đủ ở ba lĩnh vực:

Nguồn nhân lực cho các công ty điện lực, chính là cán bộ quản lý, vận hành, kỹ thuật viên bảo dưỡng, sửa chữa cho các nhà máy điện hạt nhân. Số lượng nguồn nhân lực này phụ thuộc vào công nghệ, vào số lượng tổ máy, việc đào tạo cán bộ vận hành các tổ máy điện hạt nhân cần thời gian không ít hơn 10 năm, thời gian đào tạo kỹ thuật viên cho các nhiệm vụ bảo dưỡng, sửa chữa sẽ ít hơn.

Nguồn nhân lực cho các cơ sở nghiên cứu triển khai (R&D). Đây là đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, có năng lực triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ để hỗ trợ kỹ thuật tốt nhất có thể cho vận hành an toàn, kinh tế các nhà máy điện hạt nhân. Tại Nga, Pháp, một số nước châu Âu, các cơ sở nghiên cứu là các Viện nghiên cứu (là chính) và một phần nhỏ ở các trường đại học. Tại Mỹ, các cơ sở nghiên cứu là các Viện nghiên cứu quốc gia và các trường đại học (đóng vai trò đáng kể). Ở Nhật Bản, việc nghiên cứu được thực hiện chủ yếu ở các trường đại học. Tại Hàn Quốc, KAERI là Viện nghiên cứu chính về hạt nhân, và các trường đại học cũng có vai trò ở mức độ nhất định, mà không giữ vai trò chính v.v. Khi các đơn vị nghiên cứu là cơ sở hỗ trợ kỹ thuật, họ có thể thực hiện nhiệm vụ của công ty điện lực đưa ra, cũng như nhiệm vụ cơ quan pháp quy hạt nhân đưa ra, miễn sao từng nhiệm vụ khoa học công nghệ phải được thực hiện bởi đơn vị độc lập, tránh rơi vào tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Nhân lực của cơ quan pháp quy hạt nhân, cán bộ quản lý nhà nước về hạt nhân. Thường thường, nguồn nhân lực này là các cán bộ giỏi, có kiến thức và kinh nghiệm, được lựa chọn từ các công ty điện lực, hoặc từ các cơ sở nghiên cứu liên quan. Nhiệm vụ của họ là nhìn ra các vấn đề liên quan đến an toàn của các nhà máy điện hạt nhân, để đưa ra được các yêu cầu, hay quy định về an toàn để bảo vệ con người và môi trường.

Như vậy, đánh giá về tính đáp ứng của 3 nhóm nhân lực này thì hiện nay Việt Nam đang ở vạch xuất phát. Nhóm thứ hai (R&D) hiện nay ta đã có một lực lượng đáng kể, nhưng xét trên khía cạnh về điện hạt nhân, cũng có thể xem như chưa đáng kể. Như vậy, việc đào tạo nhân lực là cấp bách, cần thực hiện song song đối với các nhóm nêu trên. Xét về khía cạnh nhiệm vụ đang triển khai trước mắt là nghiên cứu để hiểu thiết kế, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài, thực hiện các nhiệm vụ liên quan là FS và thiết kế kỹ thuật cho Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 trước mắt, thì đội ngũ R&D, chuyên gia về điện hạt nhân cần được ưu tiên phát triển sớm. Chính đội ngũ nhân lực R&D nếu có được, sẽ không những thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ trước mắt, mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới, cung cấp nguồn cán bộ chuyên gia giỏi cho cơ quan pháp quy hạt nhân, vì đội ngũ cán bộ giỏi của cơ quan pháp quy khó có thể có được với đào tạo ngắn hạn một cách thuần túy từ những cán bộ không có chuyên môn phù hợp.

Nhân lực phục vụ các dự án nhà máy điện hạt nhân có vai trò quan trọng

Nguồn nhân lực hạt nhân của Việt Nam hiện nay đang yếu và thiếu, trong khi việc triển khai nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân chưa đáp ứng yêu cầu thực tế đòi hỏi. Nhân lực cho các nhà máy đang được chuẩn bị và đào tạo, hằng năm Việt Nam vẫn đang gửi sinh viên sang Nga học về điện hạt nhân (khoảng 70 sinh viên), đồng thời EVN đang gửi cán bộ sang Nhật Bản đào tạo về điện hạt nhân (số lượng ít). Đây là những chuẩn bị cần thiết cho nguồn nhân lực của nhà máy để có thể xây dựng được đội ngũ quản lý, vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Có thể thấy rằng hiện nay việc đào tạo cán bộ cho nhà máy đang là nhiệm vụ được triển khai thực hiện đúng theo yêu cầu nhất. Về nguồn nhân lực nghiên cứu triển khai, hiện nay đang rất khó khăn để phát triển nguồn nhân lực này, vì chưa có chính sách, chiến lược đào tạo đúng đắn, Nhà nước chưa chú trọng phát triển nguồn nhân lực này, vì ngành hạt nhân không hấp dẫn cán bộ giỏi, hay sinh viên giỏi. Hầu như không có nguồn cán bộ đầu vào chất lượng cao cho các cơ sở nghiên cứu hạt nhân. Một khó khăn khác là vấn đề ngoại ngữ. Muốn trở thành chuyên gia, cán bộ giỏi trong lĩnh vực R&D, yêu cầu ngoại ngữ giỏi để có thể đọc và nghiên cứu hiệu quả các tài liệu tiếng nước ngoài. Nguồn nhân lực cho cơ quan pháp quy hạt nhân, quản lý nhà nước lại khó xây dựng do đặc thù Việt Nam chưa có ngành điện hạt nhân, nên không có nguồn cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm thực tế để lựa chọn. Trong khi Đề án Phát triển nguồn nhân lực ngành hạt nhân (Đề án 1558) lại đang rất khó khăn và lúng túng trong triển khai thực hiện. Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hạt nhân phải dựa vào thực tế, đòi hỏi, yêu cầu, nhu cầu, định hướng của ngành hạt nhân và cần phải được xây dựng cùng với các chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân một cách kỹ lưỡng và chi tiết. Tuy nhiên việc triển khai đào tạo nguồn nhân lực cho ngành hạt nhân trong 3-4 năm vừa qua của chúng ta hầu như chưa hướng đến thực tế đó.

Trong điều kiện và tình hình thực tế hiện nay, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cần được xây dựng dựa trên một số quan điểm.

Tiếp tục gửi sinh viên sang Nga và cả Nhật Bản học về điện hạt nhân, có nghĩa là đào tạo đại học đúng chuyên ngành điện hạt nhân (mỗi năm gửi khoảng 100-120 sinh viên đi học). Nếu thực hiện tốt việc này, sau 7-10 năm Việt Nam sẽ có tương đối đầy đủ nguồn cán bộ về quản lý và vận hành nhà máy. Về cán bộ kỹ thuật đảm nhận nhiệm vụ bảo dưỡng sửa chữa nhà máy, cần sớm đưa ra kế hoạch đào tạo, phối hợp xây dựng cùng 2 đối tác là Nga và Nhật Bản.

Đối với nhân lực cho R&D, việc đào tạo chuyên gia đầu đàn theo các định hướng chiến lược của điện hạt nhân là thiết yếu. Trong 5-7 năm tiếp theo, cần đào tạo khoảng 20-25 chuyên gia, cán bộ nghiên cứu đầu đàn về các lĩnh vực chiến lược này (an toàn, công nghệ, thiết kế, vật lý lò, thủy nhiệt, cơ học dòng chảy, nhiên liệu hạt nhân, chất thải phóng xạ, vật liệu sử dụng trong nhà máy điện hạt nhân, cơ khí, kinh tế v.v.). Các chuyên gia, cán bộ đầu đàn này cần được đào tạo ở nước ngoài, với những giáo sư, người hướng dẫn là các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực điện hạt nhân tại các nước Nga, Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Để rút ngắn thời gian đào tạo, đối tượng đào tạo phải được chọn từ những cán bộ giỏi của ngành hạt nhân, là kỹ sư giỏi các ngành liên quan mới tốt nghiệp từ các trường đại học trong nước. Cần có một học bổng ưu tiên đặc biệt đủ để thu hút cán bộ giỏi vào ngành. Để việc đào tạo có hiệu quả, trước khi gửi cán bộ sang đào tạo dài hạn (nhiều năm) ở nước ngoài để trở thành chuyên gia đầu đàn, cần đào tạo ngoại ngữ và kiến thức cơ bản về hạt nhân trong nước.

Việc đào tạo cán bộ cho các cơ quan quản lý nhà nước (bao gồm pháp quy hạt nhân, quản lý) nên được thực hiện theo cách gửi cán bộ giỏi, theo từng nhóm sang các nước Nga, Mỹ, Nhật Bản học trực tiếp từ công việc cụ thể. Để thực hiện được việc này, cần có chính sách để chọn được cán bộ giỏi và cần đạt được các thỏa thuận với các cơ quan pháp quy hạt nhân của các nước về đào tạo nhân lực cho Việt Nam theo hình thức “đào tạo tại chỗ” – On the Job Training).

Ngoài 3 định hướng để đào tạo theo 3 nhóm cán bộ chuyên gia nêu trên, cần có kế hoạch triển khai đào tạo trong nước một cách hiệu quả, trong đó cần sử dụng tối đa cơ sở hạ tầng nghiên cứu, đội ngũ cán bộ của ngành hạt nhân được hình thành và phát triển gần 40 năm qua.

Về việc triển khai đào tạo công nghệ điện hạt nhân tại các trường đại học trong nước, cần tập trung đào tạo tại một vài trường đại học có điều kiện thuận lợi nhất (ví dụ Đại học Bách khoa Hà Nội, và một trường đại học ở phía Nam, nơi có đủ các chuyên ngành liên quan và sử dụng được hiệu quả đội ngũ giảng viên hiện có). Việc đầu tư dàn trải vào nhiều trường đại học sẽ lãng phí tiền của đất nước, không mang lại hiệu quả, và hơn thế các thế hệ sinh viên được đào tạo ra sẽ khó có cơ hội được nhận vào làm việc trong ngành vì chất lượng đào tạo không được đảm bảo.

Chính sách ưu tiên thu hút cán bộ giỏi của ngành cũng là một yếu tố quan trọng để chương trình đào tạo nhân lực hạt nhân thực hiện thành công. Ngoài việc ưu tiên học bổng cho các cán bộ, sinh viên khi học tập, đào tạo, cần có chính sách hỗ trợ về lương đối với cán bộ đang làm việc trong ngành. Việc tạo môi trường vị trí làm việc tốt, phù hợp cũng là một yếu tố thu hút đối với cán bộ sau khi được học tập, đào tạo ở nước ngoài. Có như vậy thì ngành hạt nhân mới thu hút được những cán bộ giỏi, xuất sắc.

Cách đây khoảng 50 năm khi còn chiến tranh, Việt Nam đã có những chính sách đặc biệt để đào tạo nhân lực cho ngành hạt nhân, Chính phủ đã gửi những sinh viên xuất sắc nhất của đất nước đi đào tạo tại Liên Xô về hạt nhân. Chúng ta đã đào tạo được những chuyên gia ưu tú cho ngành, như Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu v.v. Trong giai đoạn hiện nay, khi chương trình điện hạt nhân đang được tích cực triển khai, thì việc áp dụng một chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài, thu hút những người xuất sắc cho ngành hạt nhân là điều vô cùng cần thiết, bảo đảm cho sự thành công của chương trình điện hạt nhân Việt Nam.

P.V 

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang