Thời sự

Tin trong nước

Hồ Chí Minh và Hiến pháp Việt Nam

author 10:11 19/05/2013

(VietQ.vn) - Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Dưới chế độ quân chủ đến chế độ thực dân, nước Việt Nam không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do và dân chủ. Vì vậy, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu...

Giữa tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã quyết định phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Tiếp theo, Đại hội quốc dân đã khai mạc trưa 16-8-1945. Dự đại hội có khoảng 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, đại biểu các dân tộc ít người, tôn giáo… trong đó có đại biểu từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Việt kiều Lào và Thái Lan.

Hiến pháp 1946

Tổ chức Quốc dân Đại hội Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như một Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng dân tộc ta từ ngót một thế kỷ qua. Đây là một nét độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc kết hợp sức mạnh cách mạng và thực thi pháp quyền của dân tộc ngay những ngày đầu khởi nghĩa để giành và giữ quyền dân chủ của cả dân tộc.

Nhận xét về sự kiện sáng tạo này, một sĩ quan tình báo Mỹ đã từng có mặt ở Việt Nam là Ác-ki-mét LA Pa-ti (Archimedes LAPatri) đã viết: “Khi biết tin sụp đổ của phát xít Nhật, Hồ Chí Minh đã “hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng… Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào”.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới:

 “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm xã Hùng Sơn (Đại Từ - Thái Nguyên) năm 1954. Ảnh tư liệu

Một nhà nước độc lập, tự do, dân chủ - nhà nước chung của cả dân tộc, do toàn dân cử ra và quản lý xã hội bằng luật pháp, phải có “thần linh pháp quyền” – Hiến pháp.

Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Dưới chế độ quân chủ đến chế độ thực dân, nước Việt Nam không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do và dân chủ. Vì vậy, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, gái trai, tôn giáo, dòng giống…

Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 14/5L về Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa. Ngày 20-4-1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 34/5L thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu.

Cùng với quá trình tăng cường đoàn kết đấu tranh chống chia rẽ để tạo sự ổn định xã hội cho việc triển khai cuộc vận động về thực hiện cuộc Tổng tuyển cử được thành công mỹ mãn, Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức nhanh chóng việc soạn thảo Hiến pháp. Bản dự án Hiến pháp đã được Hội đồng Chính phủ thảo luận, sửa đổi và bổ sung và đã công bố trên báo Cứu Quốc ngày 10-11-1945 để thu thập ý kiến của nhân dân.

Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết trực thuộc chính phủ gồm các trí thức, nhân sĩ, các Bộ trưởng, Thứ trưởng cũng đã nghiên cứu và đưa ra một bản Dự thảo Hiến pháp đệ trình lên Chính phủ.

Dựa trên cơ sở Dự án Hiến pháp của Chính phủ là chủ yếu, đối chiếu với bản Dự thảo Hiến pháp của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết và tham khảo các bản Hiến pháp một số nước châu Âu, châu Á, Tiểu ban Hiến pháp do kỳ họp thứ nhất của Quốc hội họp vào đầu năm 1946 đã soạn thảo một dự án Hiến pháp mới để đệ trình Quốc hội vào kỳ họp thứ hai. Trong phiên họp kỳ thứ hai, ngày 29-10-1946 của Quốc hội, Tiểu ban Hiến pháp được mở rộng thêm 10 đại biểu thuộc các đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào thiểu số… để tham gia tu bổ thêm bản Dự án Hiến pháp của Quốc hội.

Ngày 2-11-1946, Đỗ Đức Dục đã thuyết trình trước Quốc hội bản Dự án Hiến pháp Việt Nam do Tiểu ban Hiến pháp mở rộng tu chỉnh và nêu nhận xét về bước tiến trên con đường dân chủ mới của Hiến pháp Việt Nam so với Hiến pháp của một số nước dân chủ khác, đồng thời Hiến pháp Việt Nam đã dựa vào thực tiễn của đất nước để đem lại quyền lợi cho nhân dân. Các đại biểu Quốc hội của các khuynh hướng chính trị trong Quốc hội như Hồ Đức Thành - đại diện của Việt Cách, Trần Huy Liệu – đại diện cho đại biểu Mác-xít, Hoàng Văn Đức – đại diện Đảng Dân chủ, Lê Thị Xuyến – đại diện Đảng Xã hội, Nguyễn Đình Thi – đại diện Việt Minh, Trần Trung Dung – đại diện Việt Quốc… đã lần lượt phát biểu ý kiến.

Các đại biểu đều nêu lên những ưu điểm, tính chất tiến bộ của dự án Hiến pháp, góp thêm một số khía cạnh cụ thể và cuối cùng đều tán thành dự án. Riêng Trần Trung Dung tuy cũng tán thành dự án Hiến pháp song lại không tán thành chế độ một viện, sợ rằng chế độ một viện không thích hợp với hoàn cảnh ViệtNam. Phạm Gia Đỗ - đại biểu Việt Quốc cũng không tán thành chế độ một viện vì chế độ một viện là “độc tài của đa số”.

Các đại biểu khác như Hồ Đức Thành, Đỗ Đức Dục, Đinh Gia Trinh, Đào Trọng Kim, Nguyễn Sơn Hà và nhiều đại biểu khác đều tán thành chế độ một viện. Đại biểu Khuất Duy Tiến đã tranh luận với Phạm Gia Đỗ, nói rõ Hiến pháp Việt Nam rất cấp tiến. Chính thể của nước Việt Nam là chính thể tập quyền và phân công rõ ràng. Chúng ta ai cũng tha thiết với tự do, nhưng phải nhớ rằng tự do cá nhân không được trái với quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Cá nhân muốn được tự do của mình thì phải nỗ lực đấu tranh cho Tổ quốc.

Tính nhân văn sâu sắc

Qua nhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi để bổ sung, sửa đổi từng điều cụ thể, Quốc hội nhất trí thông qua Hiến pháp. Toàn thể Quốc hội đều công nhận cờ đỏ sao vàng là lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc và đã đứng lên nghiêm trang chào lá quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời hát bài Tiến quân ca. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với 240 đại biểu tán thành trên tổng số 242 đại biểu dự họp; hai đại biểu không tán thành là Phạm Gia Đỗ (Việt Quốc), Nguyễn Sơn Hà (đại biểu Hải Phòng).

Hiến pháp năm 1946 gồm có 7 chương và 70 điều.

Lời nói đầu của Hiến pháp ghi rõ:

“Nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.

Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây:

-              Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

-              Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

-              Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.[3]

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một Hiến pháp dân chủ, phản ánh rõ thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ đất nước của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa, một chế độ đảm bảo quyền tự do, dân chủ của mọi công dân, không phân biệt nam nữ, đặc biệt ưu đãi đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, ứng cử, bãi miễn các đại biểu mình bầu ra, có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia.

Đánh giá về Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiếp pháp đó còn là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân Việt Nam đã có đủ mọi người tự do, phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.[4]

Tư tưởng, nguyên tắc xây dựng và nội dung Hiến pháp 1946 có giá trị khoa học sáng tạo và tính thực tiễn sâu sắc, in đậm dấu ấn tư tưởng nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người kiến lập thể chế nhà nước pháp quyền Việt Nam.

PGS. Nhà giáo Nhân dân Lê Mậu Hãn

(ĐH Quốc gia Hà Nội)

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang