Trang chủ

Trang chủ

KHCN làm thay đổi bộ mặt nông thôn

author 06:36 20/03/2013

(VietQ.vn) - Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn trong đó có có việc chuyển giao ứng dụng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) trong nông nghiệp nông thôn, đã và đang được triển khai tích cực nhằm mang lại sự đổi thay căn bản về mọi mặt cho nông thôn miền núi.

Huy động các nguồn lực

Thực chất việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ thuộc Chương trình là cuộc chuyển giao kỹ thuật cho nông dân ở các vùng nông thôn, miền núi – nơi tập trung nhiều tiềm năng, nguồn lực và là mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc huy động các nguồn lực để tham gia thực hiện các dự án là hết sức quan trọng góp phần vào sự thành công của dự án.

TS. Bùi Mạnh Hải, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình nông thôn, miền núi cho rằng, thành công của các dự án thuộc Chương trình phụ thuộc rất lớn vào mức độ cam kết và tập trung chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương, sự phối hợp hành động của các ban, ngành chức năng. Trong đó, trách nhiệm cao nhất trong chỉ đạo thực hiện dự án tại địa phương thuộc về lãnh đạo chính quyền các cấp, có trách nhiệm chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp về nguồn lực để triển khai thực hiện dự án, tránh khoán trắng cho hệ thống các cơ quan quản lý KH&CN.

Việc huy động các nguồn lực để tham gia thực hiện các dự án là hết sức quan trọng góp phần vào sự thành công của dự án.
Việc huy động các nguồn lực để tham gia thực hiện các dự án là hết sức quan trọng góp phần vào sự thành công của dự án.

Bên cạnh đó, nhằm phối hợp các nguồn lực triển khai thực hiện dự án, từng địa phương cần xác định các địa bàn, các dự án trọng điểm để có thể gắn kết ngay từ đầu các dự án nông thôn - miền núi với các dự án kinh tế - xã hội trọng điểm của địa phương. “Cần lồng ghép các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và các chương trình khác, tập trung sức mạnh tổng hợp về nguồn tài chính và đội ngũ kỹ thuật viên tại cùng một địa bàn, thực hiện chuyển giao công nghệ để đạt được cùng một mục tiêu: phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân”, ông Hải nhấn mạnh.

Ông Trần Xuân Định, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Thái Bình cho biết, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ CNH – HĐH nông nghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Để KH&CN thực sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, từ nay đến 2020 tỉnh Thái Bình cần tập trung vào những giải pháp như: Tiếp tục nâng cao nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của KH&CN đối với CNH – HĐH nông thôn; Đổi mới cơ chế chính sách ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp; Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động KH&CN; Tăng cường nguồn nhân lực KH&CN,…

Cùng với nhận thức về vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế xã hội được nâng cao đồng nghĩa với nhiều tiến bộ KH&CN về giống, quy trình canh tác, phòng trừ dịch bệnh, phân bón,… đã được áp dụng có hiệu quả vào sản xuất đời sống như các giống lúa: TBR1, BC15, TBR36, ứng dụng có hiệu quả công nghệ vi sinh để xử lí môi trường chăn nuôi, rác thải sinh hoạt ở các thị trấn, làng nghề, đưa công nghệ thông tin phục vụ phát triển nông nghiệp – cụ thể đã xây dựng được 36 trang Website cho 36 xã nghề để giới thiệu các sản phẩm làng nghề trên Internet,…

Theo ThS Nguyễn Thế Ích, Chánh Văn phòng Chương trình nông thôn miền núi, để Chương trình được thực hiện hiệu quả, ngoài các yêu cầu quan trọng như mô hình phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; cơ quan chuyển giao công nghệ phải là đơn vị tạo ra công nghệ, có năng lực, có kinh nghiệm và lực lượng chuyển giao…, vấn đề đặc biệt quan trọng là phải huy động được nguồn lực tại chỗ, lựa chọn mục tiêu, nội dung phù hợp với điều kiện thực tế trong xây dựng mô hình và cần có sự tham gia tích cực của nhân dân, cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện giữa các các cơ quan chuyển giao công nghệ, các Sở KH&CNvới chính quyền và các đoàn thể địa phương.

Ông Mai Nhữ Thắng, Phó Giám đốc Sở KH&CN Thanh Hóa nhận định, thực tế triển các dự án thuộc Chương trình trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2006 đến nay cho thấy việc huy động các nguồn lực thực hiện dự án nông thôn miền núi là rất cần thiết cho sự thành công của các dự án. Các dự án đã biết phát huy và tranh thủ các cơ quan nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ của Trung ương và địa phương để chuyển giao công nghệ và hướng dẫn kỹ thuật cho các nội dung của dự án. “Có thể xem việc xây dựng cơ sở vật chất là phần cứng, việc huấn luyện chuyển giao kỹ thuật là phần mềm. Hai phần này có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Kinh nghiệm một số dự án trước đây chỉ chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng mà thiếu việc chuyển giao công nghệ, huấn luyện kỹ thuật làm cho cơ sở vật chất không phát huy được tác dụng. Kết quả khi hết dự án, bà con lại quay lại du canh phá rừng làm rẫy. Trong việc huấn luyện kỹ thuật, chúng tôi chuyển giao theo trình độ của bà con, tiến hành trên thực địa bằng các công việc cụ thể  theo phương thức “cầm tay chỉ việc” cho đến khi bà con tự làm được...”, ông Thắng chia sẻ.

Hiệu quả mang lại

Theo báo cáo của Bộ KH&CN, trong hai năm 2011, 2012, Chương trình đã thực hiện, chuyển giao và ứng dụng 961 công nghệ, đào tạo 2.650 kỹ thuật viên cơ sở, 1.000 cán bộ quản lí địa phương các cấp, tập huấn trên 61 ngàn lượt nông dân,… đặc biệt có 27 dự án doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, gần 100 doanh nghiệp cải tiến theo hướng hiện đại,…Các dự án là cầu nối đưa kết quả ứng dụng vào vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Ngoài ra, các dự án của Chương trình đã ứng dụng tiến bộ KH&CN tạo ra sản phẩm có giá trị cho địa phương; Xác định công nghệ phù hợp cho từng vùng, hoàn thiện quy trình sản xuất phù hợp địa phương, mang lại hiệu quả rõ rệt. Với 287 dự án được triển khai đã giải quyết việc làm cho trên 16.000 lao động, tăng năng suất cây trồng vật nuôi góp phần tăng thu nhập cho người dân. Các dự án điểm là điểm sáng về ứng dụng KH&CN, tạo hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực, tạo công ăn việc làm cho người dân, nâng cao năng suất cây trồng tăng lên 25 - 30 %, chăn nuôi, thủy sản tăng lên 10 - 20%. Lợi nhuận đạt từ 40 - 200 triệu đồng/ha, tùy theo cây trồng vật nuôi.

Nhiều mô hình đã được duy trì và phát triển rộng rãi trong sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao, trở thành tập quán sản xuất của nhân nhân ở địa bàn thực hiện dự án.
Nhiều mô hình đã được duy trì và phát triển rộng rãi trong sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao, trở thành tập quán sản xuất của nhân nhân ở địa bàn thực hiện dự án.

Cũng theo TS. Bùi Mạnh Hải, tính từ năm 2011 đến nay, Chương trình đã phê duyệt 278 dự án, triển khai và thực hiện trên địa bàn 60 tỉnh/thành phố với tổng kinh phí là 1.300 tỉ đồng (trong đó ngân sách TW là 586 tỷ đồng – chiếm 45%), huy động từ người dân, doanh nghiệp và ngân sách địa phương khoảng 713 tỷ đồng. Dự kiến Chương trình sẽ huy động được khoảng 600 lượt cán bộ khoa học từ 86 tổ chức KH&CN của TW và địa phương về phục vụ tại địa bàn nông thôn, miền núi cũng như xây dựng 870 mô hình, đào tạo khoảng 2.650 kỹ thuật viên và tập huấn cho 61.500 lượt nông dân.

Theo báo cáo của Sở KH&CN tỉnh Bình Định, trong hơn 2 năm vừa qua, các Dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi đã được thể hiện qua các cụ thể như: Dự án xây dựng mô hình kinh tế hộ, cho đồng bào thiểu số khó khăn ở xã vùng cao Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Thạnh, đưa năng suất lúa nước đạt gần 60 tạ/ha tăng 15 tạ/ha so với trước; tăng năng suất bắp lên 58 tạ/ha.

Bên cạnh đó, thông qua các dự án, đồng bào ở đâu còn biết trồng cỏ voi nuôi bò lai; Dự án mô hình sản suất gạch nung bằng công nghệ lò nung liên tục kiểu đứng làm giảm khí thải giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường; Dự án mô hình nhân giống mía bằng nuôi cấy mô; Mô hình sản suất nuôi con hàu,… “ Chương trình đã đưa tiến bộ KH&CN vào sản xuất đời sống, đã tạo ra sản phẩm mới cho địa phương, tăng năng suất cây trồng vật nuôi,…chính vì vậy rất mong Bộ KH&CN tiếp tục hỗ trợ cho tỉnh thực hiện các dự án về chuyển giao công nghệ, phương thức sản suất mới,…” ông Mai Thanh Thắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định bày tỏ.

Đánh giá về hiệu quả của chương trình tại Thái Bình, ông Trần Xuân Định cho biết thêm, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ CNH – HĐH nông nghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhận thức về vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế xã hội được nâng cao. Nhiều tiến bộ KH&CN về giống, quy trình canh tác, phòng trừ dịch bệnh, phân bón đã được áp dụng có hiệu quả vào sản xuất đời sống.

Hiệu quả của việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ KH&CN tại tỉnh dẫn đến nhiều mô hình sản xuất, Kinh doanh có hiệu quả kinh tế - xã hội cao: Mô hình luân canh 4 vụ ở xã Song An (huyện Vũ Thư) với công thức: Vụ Lúa xuân với giống lúa Japomica (Nhật Bản), Vụ hè (dưa Thanh Lê), Vụ lúa mùa, Vụ đông (khoai Tây) cho thu nhập từ 150 triệu đồng/ha/năm đến 180 triệu/năm. Ngoài ra, mô hình nuôi cá Rô phi lai xa thương phẩm ở vùng chuyển đổi tập trung tại Hưng Hà với diện tích 1,63 ha có giá trị kinh tế lên đến 180 triệu đồng/ha. Điều này đã tạo ra nguồn thu nhập ổn định mang tính bền vững cao cho bà con nông dân.

Về cơ bản, các dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi đã thực hiện được mục tiêu và nội dung đặt ra, đóng góp tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Nhiều mô hình đã được duy trì và phát triển rộng rãi trong sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao, trở thành tập quán sản xuất của nhân nhân ở địa bàn thực hiện dự án.

Ngũ n

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang