Đối thoại

Chính sách

Nhiều chính sách mới đi vào cuộc sống từ 1/5

author 08:32 30/04/2013

(VietQ.vn) - Bắt đầu từ 1/5, các quy định mới về phụ nữ nghỉ thai sản 6 tháng, giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá, tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng, hôn nhân có yếu tố nước ngoài... sẽ chính thức có hiệu lực.

1. Áp dụng chính sách nghỉ thai sản 6 tháng

Bắt đầu từ 1/5, lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con 6 tháng. Trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng.

Theo đó, trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.

Phụ nữ được nghỉ 6 tháng khi sinh nở. Ảnh minh họa

Còn trường hợp trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 4 tháng.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Bộ Luật Lao động cũng quy định: Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.

Trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai: Thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, chăm sóc con dưới 7 tuổi ốm đau, nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi, lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Về tuổi đời hưởng lương hưu, Bộ luật Lao động quy định nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; tuy nhiên, người lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn hoặc cao hơn không quá 5 năm theo quy định của Chính phủ.

Thời giờ làm thêm tối đa của người lao động được giữ như hiện hành là không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong một năm. Ngoài ra Bộ luật Lao động cũng quy định tăng số ngày nghỉ Tết Âm lịch lên 5 ngày.

2. Tăng cường phòng chống tác hại thuốc lá

Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013 trong đó có quy định các biện pháp nhằm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá và các điều kiện đảm bảo để phòng chống tác hại thuốc lá.

Từ 1/5, áp dụng chính sách hạn chế thuốc lá mới. Ảnh minh họa

Một trong những nội dung quan trọng của Luật là quy định về các địa điểm cấm hút thuốc, bao gồm: các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn, các địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc; quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý các địa điểm cấm hút thuốc lá; xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá.

Cũng theo Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT có hiệu lực từ 1/5/2013, thuốc lá sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải in cảnh báo sức khỏe chiếm ít nhất 50% diện tích mặt chính và mặt sau bao bì thuốc lá. Cảnh báo sức khỏe phải được in song song sát với rìa trên của bao bì thuốc lá.

Mẫu cảnh báo sức khỏe của mỗi loại sản phẩm thuốc lá phải được thay đổi định kỳ 2 năm/lần.

3. Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài sẽ bị từ chối nếu kết hôn cùng giới

Theo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc đăng ký kết hôn sẽ bị từ chối nếu thuộc 1 trong 9 trường hợp:

1- Một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam; 2- Bên kết hôn là công dân nước ngoài không đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc thường trú đối với người không quốc tịch;  3- Việc kết hôn không do nam, nữ tự nguyện quyết định; 4- Có sự lừa dối, cưỡng ép kết hôn;  5- Một hoặc cả hai bên kết hôn là người đang có vợ, đang có chồng; 6- Một hoặc cả hai bên kết hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; 7- Các bên kết hôn là những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời; 8- Các bên kết hôn đang hoặc đã từng là cha, mẹ nuôi và con nuôi, bố chồng và con dâu, mẹ vợ và con rể, bố dượng và con riêng của vợ, mẹ kế và con riêng của chồng; 9- Các bên kết hôn cùng giới tính (nam kết hôn với nam; nữ kết hôn với nữ).

Việc đăng ký kết hôn cũng bị từ chối nếu kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời; kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác.

4. Tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Xây dựng

Chính phủ ban hành Nghị định 26/2013/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Xây dựng. Theo đó cơ quan thanh tra nhà nước ngành xây dựng gồm thanh tra Bộ Xây dựng và thanh tra Sở Xây dựng.

Thanh tra Bộ Xây dựng có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, thanh tra viên, công chức, được tổ chức thành các phòng nghiệp vụ.

Còn Thanh tra Sở Xây dựng có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, thanh tra viên, công chức. Riêng thanh tra Sở Xây dựng TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh được tổ chức các đội đặt tại địa bàn cấp huyện.

Nghị định 26/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2013, chấm dứt việc thực hiện Quyết định số 89/2007/QĐ-TTg ngày 18/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thành lập Thanh tra xây dựng quận, huyện và Thanh tra xây dựng xã, phường, thị trấn tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

5. Buộc phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 18/2013/QĐ-TTg về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó yêu cầu phải cải tạo, phục hồi môi trường ngay trong quá trình khai thác khoáng sản.

Phải khôi phục môi trường sau khi khai thác khoáng sản. Ảnh minh họa
Phải khôi phục môi trường sau khi khai thác khoáng sản. Ảnh minh họa

Phải đảm bảo đưa môi trường, hệ sinh thái tại khu vực khai thác khoáng sản và khu vực bị ảnh hưởng của hoạt động khai thác về trạng thái môi trường gần với trạng thái môi trường ban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn và môi trường, đảm bảo an toàn và phục vụ các mục đích có lợi cho con người theo quy định.

Mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản phải lập Đề án cải tạo, phục hồi môi trường trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Có 2 trường hợp không phải lập Đề án: 1- Tổ chức, cá nhân đang khai thác khoáng sản đã có Dự án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt và đã ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường theo đúng quy định; 2- Tổ chức, cá nhân khai thác vật liệu xây dựng thông thường theo quy định tại khoản 2 Điều 64 của Luật Khoáng sản.

6. Hỗ trợ tiền ăn thêm tối đa 50.000 đồng/ngày/người khi tham gia chữa cháy rừng

Từ ngày 15/5/2013, mức chi bồi dưỡng cho người được huy động (trừ chủ rừng) để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép, phòng cháy, chữa cháy rừng được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch 20/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính ban hành.

Thông tư nêu rõ, đối với việc chi tiền bồi dưỡng làm nhiệm vụ cho các lực lượng trực tiếp được huy động hoặc tự nguyện thực hiện nhiệm vụ đột xuất ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và chữa cháy rừng (bao gồm cả lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm), mức chi tối đa cho một người trong một ngày bằng ngày công lao động nghề rừng cao nhất ở địa phương.

Các lực lượng trực tiếp được huy động hoặc tự nguyện thực hiện nhiệm vụ đột xuất ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và chữa cháy rừng còn được hỗ trợ tiền ăn thêm tối đa là 50.000 đồng/ngày/người.

7. Cô đỡ thôn bản là chức danh y tế chính thức

Từ ngày 1/5, cô đỡ thôn bản sẽ là một chức danh trong hệ thống y tế Việt Nam theo nội dung Thông tư 07/2013/TT-BYT quy định tiêu chuẩn, chức năng nhiệm vụ của cán bộ y tế thôn bản.

Cô đỡ thôn bản chính thức được công nhận là chức danh y tế. Ảnh minh họa
Cô đỡ thôn bản chính thức được công nhận là chức danh y tế. Ảnh minh họa

Về trình độ, chuyên môn đào tạo, cô đỡ thôn, bản phải đã hoàn thành khóa đào tạo có thời gian từ 6 tháng trở lên theo khung chương trình đào tạo cô đỡ thôn, bản của Bộ Y tế.

8. Người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc

Khi chấm hợp đồng lao động, người lao động đã làm việc liên tục từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp 1/2 tháng lương

Từ 1/5, Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành. Theo đó khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định (tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36) của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Về trợ cấp mất việc làm, người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Nguyễn Nam

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang