Pháp luật

Hồ sơ vụ án

Tiếp vụ 1 căn hộ bán cho hai người: "Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi"

author 11:47 14/08/2013

Sau khi bài viết đăng tải, ngoài việc Văn phòng công chứng Hà Nội gửi đơn tới báo Bảo vệ pháp luật “kêu oan” thì còn “nhờ cậy” báo điện tử PLVN “thanh minh” theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Đáng tiếc, trên tờ báo này có một bài viết đăng tải gần như nguyên văn “nguyện vọng” của Văn phòng công chứng Hà Nội mà không hề xác minh từ phía các cơ quan chức năng có liên quan.

Báo Bảo vệ pháp luật số 63 ra ngày 06/8/2013 đăng tải bài viết “Vụ một căn hộ được bán cho hai người: Đối tượng lừa đảo có móc nối với Văn phòng công chứng?”. Nội dung bài viết phản ánh sự việc: ngày 12/7/2012, Văn phòng công chứng Hà Nội công chứng văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ đối với Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 1475/HĐ/HH2D-LVL. Bên bán là vợ chồng ông Trương Minh Hải và bà Nguyễn Thị Minh Phương, bên mua là vợ chồng ông Nguyễn Tuấn Anh và bà Vũ Thị Yến. Đáng lưu ý, trước đó vợ chồng ông Hải đã ra Văn phòng công chứng Lạc Việt công chứng chuyển nhượng hợp đồng mua bán để bán căn hộ nêu trên cho ông Lê Quang Khánh.

Sau khi bài viết đăng tải, ngoài việc Văn phòng công chứng Hà Nội gửi đơn tới báo Bảo vệ pháp luật “kêu oan” thì còn “nhờ cậy” báo điện tử PLVN “thanh minh” theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

Đáng tiếc, trên tờ báo này có một bài viết đăng tải gần như nguyên văn “nguyện vọng” của Văn phòng công chứng Hà Nội mà không hề xác minh từ phía các cơ quan chức năng có liên quan.

Tuy nhiên, trên cơ sở những tài liệu mà phóng viên thu thập được, có thể khẳng định nội dung bài viết trên báo Bảo vệ pháp luật đã phản ánh đúng bản chất sự việc.

Thứ nhất, ngày 15/7/2011, ông Trương Minh Hải cùng vợ là bà Nguyễn Thị Minh Phương lập Văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 1475/HĐ/HH2D-L cho ông Lê Quang Khánh và được công chứng tại Văn phòng công chứng Lạc Việt. Thời điểm này, trước khi công chứng, Văn phòng công chứng Lạc Việt tra cứu mạng UCHI (mạng này cung cấp thông tin liên quan đến các giao dịch đã được công chứng) thấy rằng trước khi chuyển nhượng cho ông Khánh, ông Trương Minh Hải chưa chuyển nhượng tài sản này cho ai nên việc công chứng xác nhận việc ông Hải chuyển nhượng cho ông Khánh hợp đồng này là hoàn toàn hợp pháp.

Thứ hai, sau khi đã công chứng chuyển nhượng hợp đồng trên cho ông Khánh, ngày 12/7/2012, ông Trương Minh Hải tiếp tục ra Văn phòng công chứng Hà Nội yêu cầu công chứng việc chuyển nhượng hợp đồng này để tiếp tục bán căn hộ trên cho vợ chồng ông Nguyễn Tuấn Anh và bà Vũ Thị Yến. Văn phòng công chứng Hà Nội mặc dù không xác minh đầy đủ thông tin pháp lý về tài sản của người yêu cầu công chứng nhưng vẫn công chứng việc chuyển nhượng, việc công chứng này do Công chứng viên Lê Quốc Hùng (Trưởng Văn phòng) thực hiện. Như vậy, chỉ có một tài sản nhưng nhờ việc công chứng của Văn phòng công chứng Hà Nội, ông Trương Minh Hải đã chuyển nhượng căn hộ để bán cho hai người. Theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi nêu trên của ông Trương Minh Hải đã có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

 

 Giữa năm 2012, một số người dân mang theo tấm biển “văn phòng công chứng làm hại người dân” đến Văn phòng công chứng Hà Nội khiếu nại.
Giữa năm 2012, một số người dân mang theo tấm biển “văn phòng công chứng làm hại người dân” đến Văn phòng công chứng Hà Nội khiếu nại.


Qua sự việc này có thể nhận thấy, dù cho Văn phòng công chứng Hà Nội có “thanh minh” thế nào thì hành vi công chứng một hợp đồng vi phạm pháp luật cũng không thể “lọt lưới” các quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Điều 39 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, về trường hợp không được thực hiện công chứng, chứng thực nêu rõ: Người thực hiện công chứng, chứng thực không được thực hiện công chứng, chứng thực trong các trường hợp sau đây: “Khoản 1. Biết hoặc phải biết yêu cầu công chứng, chứng thực hoặc nội dung công chứng, chứng thực trái pháp luật, đạo đức xã hội”. Như vậy, trong trường hợp này,  Văn phòng công chứng Hà Nội đổ lỗi “khách quan” cho việc “không tra cứu được” mạng UCHI nên không biết hợp đồng này đã được công chứng và tài sản đang được chuyển sang thuộc sở hữu của ông Khánh để rồi “nhắm mắt” công chứng văn bản chuyển nhượng hợp đồng giao dịch trái pháp luật nêu trên là trái với các quy định pháp luật đã trích dẫn trên.

Điều 3, Luật Công chứng nêu rõ Công chứng viên phải “Khách quan, trung thực. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng. Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng”. Nguyên tắc hành nghề công chứng là đề cao nhiệm vụ, trách nhiệm, vai trò của công chứng viên khi thi hành công việc được giao. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc để công chứng viên cần thận trọng, khách quan khi xem xét ký vào văn bản công chứng.

Dư luận đặt câu hỏi, nếu không có việc công chứng của Văn phòng công chứng Hà Nội thì liệu ông Hải có điều kiện để thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội lừa đảo như trên không? Còn nữa: Tại sao khi chưa có đầy đủ thông tin về tính hợp pháp của Hợp đồng mua bán (điều này nằm trong khả năng và cũng là đòi hỏi nghiệp vụ của Văn phòng Công chứng) mà Văn phòng công chứng Hà Nội đã “vội vàng” công chứng một cách đáng ngờ như vậy? Bởi rõ ràng, việc công chứng Hợp đồng như đã nêu, dù vô tình hay hữu ý, đã là tạo điều kiện, là sự “giúp sức” cho ông Hải thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm lừa đảo.

Qua sự việc này, dư luận không thể không đặt ra vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ, về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức hành nghề, lý do tồn tại của loại hình Văn phòng Công chứng, khi Văn phòng này không thể đảm bảo an toàn cho những giao dịch trong xã hội hiện nay.

Như vậy, trong vụ việc này, Cơ quan điều tra cần làm rõ có hay không hành vi móc nối giữa Văn phòng công chứng Hà Nội với đối tượng Trương Minh Hải. Nếu là lỗi cố ý thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật hình sự với vai trò đồng phạm. Còn trong trường hợp Văn phòng công chứng Hà Nội vô ý tiếp tay cho hành vi có dấu hiệu lừa đảo của ông Hải, thì Sở Tư pháp Hà Nội (đơn vị quản lý) cũng cần xem xét trách nhiệm của Văn phòng công chứng Hà Nội có đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp để hành nghề công chứng hay không khi Văn phòng này đã nhiều lần để xảy ra những trường hợp tương tự?

Bởi một lẽ, nếu Văn phòng công chứng này có đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, làm việc hết trách nhiệm, với lương tâm, đạo đức nghề nghiệp để hành nghề khi xác định đầy đủ thông tin về hợp đồng giao dịch trên mới tiến hành công chứng thì đã không thể xảy ra hành vi vi phạm pháp luật nêu trên.

Có một thực tế, hiện nay loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực bất động sản gia tăng, gây hoang mang trong xã hội. Thông qua loạt bài viết này, báo Bảo vệ pháp luật phản ánh kịp thời, nhằm cảnh báo với các cơ quan chức năng, giúp người dân cảnh giác hơn khi tham gia giao dịch mua bán tương tự.

Thiết nghĩ, cùng với việc điều tra, làm rõ hành vi có dấu hiệu lừa đảo tài sản trong việc một căn hộ được công chứng để chuyển nhượng cho hai người nêu trên, thì động cơ, mục đích của người viết bài “chữa cháy” cho Văn phòng công chứng Hà Nội trong sự việc nêu trên cũng cần được cơ quan chức năng làm rõ.

Văn phòng Công chứng Hà Nội đã từng bị “vướng” vào sự việc tương tự
 
Ông Lê Quốc Hùng, Trưởng Văn phòng công chứng Hà Nội cho biết, ông bị một số đối tượng đe dọa về tính mạng, yêu cầu bồi thường cho họ hàng trăm triệu đồng. Sự việc xảy ra vào giữa năm 2012, bắt nguồn từ việc một mảnh đất được bán cho hai người và đã được Văn phòng công chứng Hà Nội xác nhận.
 
báo pháp luật Việt Nam nêu: Trong Văn phòng công chứng Hà Nội có 02 phụ nữ mang tấm biển ghi rõ “Văn phòng công chứng làm hại người dân”. Theo trình bày của ông Hùng, việc ông bị đe dọa có liên quan đến một hợp đồng do Văn phòng công chứng Hà Nội thực hiện. Ngày 16/12/2010, Văn phòng công chứng Hà Nội nhận được hồ sơ đề nghị công chứng hợp đồng ủy quyền giữa chủ sử dụng đất là vợ chồng ông Hoàng Văn Thắng với bên nhận ủy quyền là bà Vương Thị Chắt liên quan đến quyền sử dụng đất tại thôn La Thạch, xã Phương Đình, huyện Đan Phượng (Hà Nội). Giấy CNQSDĐ số 700348, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00904/QSDĐ/ĐP do UBND huyện Đan Phượng cấp 30/09/2004 mang tên ông Hoàng Văn Thắng. Hợp đồng ủy quyền được lập, ký và công chứng tại Văn phòng công chứng Hà Nội ngày 16/12/2010… Căn cứ hợp đồng ủy quyền này, ngày 17/12/2010, bà Vương Thị Chắt đã đến Văn phòng công chứng Hoàng Cầu ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Lê Thị Thanh Hà… Ngày 03/6/2011, bà Chắt tiếp tục cầm giấy CNQSDĐ nêu trên quay lại Văn phòng công chứng Hà Nội để chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị Quý. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cũng đã được công chứng viên Lê Quốc Hùng (Trưởng Văn phòng công chứng Hà Nội) chứng nhận. Sự việc nghiêm trọng một mảnh đất được bán cho hai người sau đó bị phát hiện và Cục cảnh sát hình sự (C45) Bộ Công an đã phải vào cuộc xác minh…
                                                            
       (Nguồn: báo Pháp luật Việt Nam)

Nhóm phóng viên

Theo báo bảo vệ pháp luật

 

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang