Giao lưu trực tuyến

GLTT: Áp dụng HTQL và công cụ cải tiến năng suất chất lượng DN

authorThanh Uyên 06:30 06/05/2017

(VietQ.vn) - Sáng nay 5/5, Chương trình giao lưu trực tuyến “Áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng trong doanh nghiệp” được tổ chức tại Chất lượng Việt Nam online.

Tổng biên tập Chất lượng Việt Nam online (VietQ.vn) Trần Văn Dư tặng hoa các khách mời tham gia Chương trình giao lưu trực tuyến

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, việc áp dụng các Hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng là cần thiết và phù hợp với thực trạng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nền kinh tế thị trường đã và đang tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ, khốc liệt hơn bao giờ hết.

Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Ở đó, các doanh nghiệp điều phải tuân theo các quy luật, sân chơi mang tính toàn cầu. Các doanh nghiệp có năng lực vượt trội trong quản lý điều hành, trong quản trị tài chính, trong quản trị chiến lược, … sẽ có ưu thế và lợi thế rõ rệt, song hành với đó là các doanh nghiệp có năng lực yếu kém sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh hoặc phải tự đào thải.

Do đó bên cạnh việc tái cấu trúc, các doanh nghiệp còn cần phải chú trọng sử dụng các hệ thống quản lý, công cụ tiên tiến để vực dậy doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh. Giúp các doanh nghiệp này đáp ứng được tổng thể các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý môi trường, an toàn thực phẩm một cách hiệu quả nhất.

Chương trình giao lưu trực tuyến lần này tập trung giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến vấn đề lựa chọn hệ thống quản lý, công cụ cải tiến NSCL phù hợp với loại hình quy mô doanh nghiệp; tư vấn áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng một cách hiệu quả giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở cải tiến hiệu suất hoạt động, phát triển năng lực đội ngũ nhân sự, hình thành và củng cố văn hóa doanh nghiệp.

Cũng tại Giao lưu trực tuyến lần này, các khách mời trả lời các vấn đề liên quan đến Nghị định 87/2016/NĐ-CP – Quy định về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy được dư luận rất quan tâm gần đây. Đồng thời tư vấn cách thức áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng cho các đơn vị sản xuất mũ bảo hiểm.

Chương trình có sự tham gia của các khách mời:

- Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng,Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

- Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

- Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

- Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

NỘI DUNG BUỔI GIAO LƯU:
Thu Huyền - nguyenthithuhuyenbg@gmail.com
Chương trình đổi MBH có chất lượng được UBATGT tổ chức trước đây gây ấn tượng lớn và được hưởng ứng của đông đảo người dân, vì sao thời gian gần đây lại không làm nữa, liệu có làm trở lại không?
Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

Năm 2012-2013 đã có tới 300.000 mũ đạt chuẩn được đổi trong chương trình đổi mũ của UBATGTQG.

Hiện nay không phải không làm nữa mà chúng tôi vẫn đang làm thậm chí mức độ tốt hơn và thực chất hơn: Thay vì đổi, chúng tôi chuyển sang tặng mũ bảo hiểm đạt chuẩn.

Hiện hàng năm Ủy ban vẫn tặng hàng trăm nghìn mũ đạt chuẩn khắp cả nước, đặc biệt các vùng đồng bào khó khăn, các trường học khu vực thu nhập thấp... như vậy là rất thực chất. và vẫn tiếp tục làm.

Với những người dân sống ở thành thị do không may mắn hoặc cố tình mua mũ bảo hiểm chưa đạt chuẩn, chúng tôi cũng rất mong muốn có thể đổi một chiếc mũ đạt tiêu chuẩn nhưng do nguồn lực có hạn cần ưu tiên cho những vùng khó khăn hơn. Tuy nhiên, tôi cho rằng, hiện nay, tại Hà Nội, với thu nhập hiện nay thì có lẽ việc mua một chiếc mũ 200-300 ngàn đạt chuẩn dùng lâu dài chắc chắn không phải là vấn đề với phần lớn cư dân Hà Nội.

 Các khách mời trả lời phỏng vấn trực tiếp của Phóng viên Chất lượng Việt Nam - VietQ.vn

Nguyễn Ngọc Tú - tungocnguyen@gmail.com
Đề nghị cơ quan quản lý cho biết biện pháp sẽ triển khai trong thời gian tới để quản lý chất lượng mũ bảo hiểm có hiệu quả.
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các quy định pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy, trong thời gian tới, các cơ quan quản lý cần quyết liệt triển khai một số công việc sau:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động mọi tầng lớp nhân dân nắm bắt các quy định của pháp luật về bắt buộc đội mũ bảo hiểm có chất lượng phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia khi tham gia giao thông bằng phương tiện mô tô, xe máy, xe đạp điện, xe máy điện và các loại phương tiện tương tự;

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, phân phối mũ bảo hiểm cũng như tại các tổ chức đánh giá sự phù hợp mũ bảo hiểm đã được chỉ định;

- Các lực lượng thực thi công vụ chức năng như cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông … tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các đối tượng vi phạm quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, đường sắt khi tham gia giao thông bằng phương tiện mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện và các loại xe tương tự.

Vũ Liên - xuanvulien@gmail.com
Đại diện cơ quan an toàn giao thông quốc gia, ông có lời khuyên nào cho người tiêu dùng khi lựa chọn mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy?
Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

Mũ bảo hiểm là thiết bị phòng vệ thụ động, giảm thiểu thiệt hại khi có va chạm. Tuy nhiên, khi mua mũ bảo hiểm, người dùng thường có tâm lý chủ quan. Một kết quả nghiên cứu với 5000 trường hợp sử dụng ghế cho trẻ em tại Mỹ trên ô tô thì chỉ có 14 đúng quy định.

Tại Maylasia, kết quả điều tra 5.000 người sử dụng thì chỉ có 54% người sử dụng mũ bảo hiểm đúng quy định.

Chính vì vậy, lời khuyên của tôi là khi lựa chọn, người tiêu dùng cần bảo đảm chất lượng qua việc chọn mũ có thương hiệu,tem nhãn, nơi bán có uy tín, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng vì đây thiết bị bảo vệ an toàn của bạn, gia đình, xã hội.

Tuy nhiên, việc có mũ đạt chuẩn chưa đủ mà chúng ta cần sử dụng mũ đạt tiêu chuẩn, phù hợp (trong đó, đảm bảo mũ không quá to,quá nhỏ, kết cấu phù hợp với mục đích sử dụng...) và sử dụng đúng cách (đeo, cài quai, độ chặt).

Đối với người tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, mũ bảo hiểm có chức năng bảo vệ vùng đầu và gần như là dụng cụ bảo vệ duy nhất đối với cơ thể khi xảy ra tai nạn. Khi đội các loại mũ bảo hiểm không bảo đảm chất lượng sẽ không đủ khả năng bảo vệ đối với người tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, còn với các loại mũ giả mạo mũ bảo hiểm, không những không có chức năng bảo vệ còn có thể gây ra một số bệnh đối với da đầu hoặc làm các chấn thương nặng hơn, ví dụ khi xảy ra tai nạn, mũ sẽ bị vỡ, các mảnh nhựa vỡ có thể đâm vào đầu, gây những chấn thương nghiêm trọng. Bởi vậy cần phải đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn và phải đội đúng quy cách. Thông điệp mà Ủy ban ATGT Quốc gia muốn gửi đến người tham gia giao thông là: “Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mình!”

Trúc Linh -
Nghị Định 87 quy định cho doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm, cụ thể là về trang thiết bị của dây chuyền sản xuất. Nhưng doanh nghiệp tôi quy mô nhỏ nên việc đầu tư sẽ rất khó khăn, vậy chúng tôi có thể liên kết với các doanh nghiệp khác để nhập phụ kiện về lắp ráp hay không?
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Nghị định số 87/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy đã quy định rất chi tiết về điều kiện sản xuất mũ bảo hiểm. Các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm cần tuân thủ các quy định trong Nghị định 87/2016/NĐ-CP.

Chúng tôi chưa rõ quy mô doanh nghiệp của bạn nhỏ ở mức độ nào để có thể đưa ra những ý kiến, tư vấn phù hợp. Ví dụ, nếu doanh nghiệp nhỏ ở mức có thể cân nhắc để đầu tư trang thiết bị của dây chuyền sản xuất mũ bảo hiểm đảm bảo với quy định tại Nghị định 87/2016/NĐ-CP thì nên có chiến lược đầu tư hợp lý để phát triển doanh nghiệp đáp ứng được các quy định của pháp luật. Trong trường hợp, doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn nữa thì có thể cân nhắc thay đổi hoạt động kinh doanh để phù hợp với năng lực của doanh nghiệp, ví dụ như việc liên kết, hợp tác với các cơ sở sản xuất mũ bảo hiểm đủ điều kiện sản xuất kinh doanh MBH để trở thành nhà phân phối, tiêu thụ mũ bảo hiểm đạt chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. 

Nguyễn Văn Hải -
Nghị Định 87 có quy định về điều kiện phân phối bán lẻ mũ bảo hiểm phải có đăng ký kinh doanh, theo bà việc này có cần thiết không? Nếu chỉ bán số lượng ít thì có cần phải đăng ký hay không?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Theo tôi điều này là cần thiết, bởi việc các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hộ gia đình phân phối mũ bảo hiểm đăng ký kinh doanh sẽ đảm bảo nguồn gốc, chất lượng của sản phẩm, bảo vệ uy tín của cơ sở sản xuất cũng như các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hộ gia đình kinh doanh mũ bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Thủy Tiên - hathuytien234@gmail.com
Nghị định 87 hướng người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng MBH đạt chất lượng, góp phần giảm thiểu rủi ro cho người tham gia giao thông, tuy nhiên không ít người tham gia giao thông đội MBH chỉ để đối phó, bất cập này theo ông các cơ quan chức năng cần vào cuộc thế nào?
Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

Ông Trần Hữu Minh trả lời nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề sử dụng mũ bảo hiểm mà người tiêu dùng quan tâm

Trước hết, tôi rất muốn trao đổi một vài thông tin để bạn đọc có thể nhìn nhận đa chiều. Trên quan điểm đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là một điểm sáng trong thực thi đội mũ bảo hiểm, với tỷ lệ đội mũ của người lớn là 95-98%, trẻ em từ 65-70%. Tại nhiều trường học cấp 1 trên địa bàn Hà Nội, tỷ lệ đội mũ của trẻ em hiện nay đã tăng lên tới >95%. Nếu so sánh với các nước trong khu vực, chẳng hạn như Malaysia, Thái Lan: Tỷ lệ đội mũ bảo hiểm trong khu vực đô thị có thể là 90%, tại khu vực nông thông chỉ xấp xỉ 50%, thấp hơn Việt Nam rất nhiều. Tuy nhiên, tôi cho rằng, Việt Nam vẫn cần kiên trì và quyết tâm để thực hiện việc đội mũ bảo hiểm.

Đây là một bước tiến rất dài, nếu chúng ta so sánh với thực tế cách đây 3 năm. Vào năm 2014, theo kết quả của một nghiên cứu Ngân hàng thế giới thực hiện độc lập tại Hà Nội, tỷ lệ đội mũ của người lớn là tương đối cao, từ 98 - 25%. Nhưng tỷ lệ đội mũ của trẻ em chỉ khoảng 25%. Điều đó cho thấy vào thời điểm năm 2014, khoảng 75% người lớn về nhận thức chưa đầy đủ về việc cần thiết phải đội mũ bảo hiểm cho trẻ em.

Nhận thức là một quá trình. Để giải quyết vấn đề mà người dân đội mũ bảo hiểm mang tính đối phó, tôi cho rằng cần phải tiếp tục tuyên truyền-kết hợp chặt chẽ với xử phạt vi phạm. Về mặt xử phạt, chúng ta đã có Nghị định 46, tuy nhiên, sau khi Nghị định 87 ra đời, chúng ta có đầy đủ căn cứ pháp lý để tiến hành tuyên truyền và xử phạt trong các khâu khác từ sản xuất, phân phân tiêu thụ.

Bên cạnh đó, việc tăng cường nhận thức của người dân về lợi ích của việc đội mũ bảo hiểm chất lượng luôn là giải pháp bền vững. Đồng thời, chúng ta cần khuyến khích để có sự vào cuộc của truyền thông, người dân, đặc biệt là phát huy vai trò của dây nóng trong việc thu nhận thông tin phản ánh vi phạm.

Về việc thực hiện đội mũ bảo hiểm, tôi cho rằng vẫn đang còn một khoảng trống cho trẻ từ 1-6 tuổi vì đối tượng này cũng rất cần áp dụng đội mũ bảo hiểm để bảo vệ khi tham gia giao thông nhưng hiện nay vẫn còn nhiều bất cập.

Vào năm 2007, khi bắt đầu thực thi đội mũ bảo hiểm, BS Lý Ngọc Liên, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật thần kinh bệnh viện Việt Đức cho biết, trẻ dưới 3 tuổi xương cổ mềm, đội mũ bảo hiểm sẽ rất nguy hiểm – tôi cần nhấn mạnh ý của bác sỹ Liên ở đây là trường hợp trẻ quá nhỏ nhưng lại phải đội mũ của người lớn rất to và nặng.

Bác sĩ Liên cho rằng, cần có nghiên cứu y khoa chỉ rõ trẻ em ở độ tuổi nào nên đội mũ bảo hiểm. Trên thị trường hiện nay (năm 2007) cũng chưa có loại mũ nào thích hợp với lứa tuổi 3-4.

Bác sĩ Ngô Văn Toàn, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức cũng cho rằng mũ trẻ em cần được chuẩn hóa, có những yếu tố đặc biệt như quai mũ không làm hằn lên da, phải vừa đầu.

Rất tiếc sau đó những thông điệp này được chuyển đi đến công chúng theo ý đã bị hiểu sai theo hướng: Trẻ em không cần đội mũ bảo hiểm và từ đó tới nay mũ bảo hiểm dành cho trẻ em vẫn đang bị lãng quên đặc biệt với lứa tuổi 1-6. Trong khi Việt Nam vẫn là một quốc gia có rất nhiều xe máy và chúng ta vẫn phải chấp nhận có nhiều trường hợp người dân chỉ có tiếp cận và sử dụng xe máy.

Thực tế không có bác sỹ nào nói trẻ em khi đi xe máy không cần đội mũ bảo hiểm, vấn đề là mũ phải phù hợp về kết cấu, kích thước, trọng lượng của trẻ... đây là một vấn đề mà chúng ta có thể làm ngay được (từ việc xây dựng, ban hành quy chuẩn tiêu chuẩn, quy định pháp luật, tuyên truyền và cưỡng chế thực thi.)

Hưng Thịnh Phát -
Xin hỏi chuyên gia của Viện Năng suất Việt Nam, doanh nghiệp tôi quy mô nhỏ sản xuất mũ bảo hiểm thì cần phải áp dụng hệ thống quản lý nào?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

Đối với doanh nghiệp của bạn, bạn có thể áp dụng Hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9000. Phiên bản mới nhất là ISO 9000:2015. Đây là tiêu chuẩn về quản lý chất lượng có thể áp dụng cho bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào và với bất kỳ quy mô nào. 

Ngoài ra doanh nghiệp bạn cũng có thể tham khảo một số mô hình cải tiến năng suất chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như 5S, TPM, Lean,...

Phạm Văn Tình - tinhpham23@gmail.com
Doanh nghiệp tôi chuyên sản xuất, kinh doanh mũ dùng cho người tập thể thao, trên mũ có gắn nhãn “mũ dùng cho người tập thể thao; có ghi địa chỉ cơ sở sản xuất” xin hỏi: như thế có vi phạm quy định tại Nghị định số 87/2016/NĐ-CP không?
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Nghị định số 87/2016/NĐ-CP chỉ quy định các điều kiện đối với hoạt động kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy trong đó bao gồm các hoạt động sản xuất, nhập khẩu, phân phối mũ bảo hiểm, không điều chỉnh đối với các loại hình kinh doanh mũ khác. Tuy nhiên, xin lưu ý:

1. Mũ giả mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy đã được quy định rất cụ thể tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 87/2016/NĐ-CP, cụ thể:

a) Mũ có hình dáng bên ngoài giống mũ bảo hiểm nhưng không có giá trị sử dụng, công dụng của mũ bảo hiểm theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

b) Mũ giả mạo về sở hữu trí tuệ;

c) Mũ có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên doanh nghiệp, địa chỉ của doanh nghiệp khác;

d) Mũ giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa;

đ) Mũ có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất hàng hóa;

e) Mũ giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu chứng nhận hợp quy về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Do đó, Doanh nghiệp sản xuất các loại mũ khác cần tránh sản xuất các loại mũ có hình dáng bên ngoài tương tự như mũ bảo hiểm dành cho người đi mô tô, xe máy và các quy định mũ giả mũ bảo hiểm đã được đề cập ở trên. 

2. Theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, sản phẩm hàng hóa phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này và ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá. Do đó, để tránh sự nhầm lẫn về mục đích sử dụng đối với người mua hàng, bên cạnh các thông tin ghi trên nhãn mũ “mũ dùng cho người tập thể thao, địa chỉ cơ sở sản xuất” doanh nghiệp cần bổ sung thêm thông tin về tiêu chuẩn công bố áp dụng đối với mũ do doanh nghiệp mình sản xuất (Ví dụ TCCS xxx).

Mỹ Dung - dungmymy@yahoo.vn
Ông đánh giá như thế nào về tình trạng sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm trong thời gian qua? Nó có liên quan gì tới tình trạng chấn thương sọ não của người tham gia giao thông đội mũ bảo hiểm không đảm bảo chất lượng?
Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

Hiện nay chúng ta có 48 triệu xe máy đăng ký, tăng trưởng xấp xỉ 10% tại các thành phố lớn. Một thị trường tăng trưởng từ 7-10%/năm vẫn đang là một thị trường có tiềm năng. Tỷ lệ sở hữu xe máy của Việt Nam là trên 500 xe/1 nghìn dân. Người đi xe mấy được xếp vào nhóm người dễ bị tổn thương. Khi điều khiển xe máy thì mũ bảo hiểm là phương tiện duy nhất bảo vệ người đi xe máy tham gia giao thông. Vì vậy, việc quản lý quá trình sử dụng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ATGT.

Trong dòng giao thông, xe máy luôn chiếm khoảng trên 80% và là nhóm phương tiện dễ bị tổn thương. Mũ bảo hiểm là giải pháp phòng vệ thụ động nhưng cực kỳ quan trọng với người đi xe máy.

Đội mũ bảo hiểm chất lượng đúng quy cách sẽ giúp giảm 72% rủi ro bị chấn thương và 40% rủi ro bị tử vong khi có va chạm.

Chính bởi vậy thế giới phần lớn có quy định, và tại Việt Nam có quy định trong luật giao thông đường bộ.

Theo số liệu của Bộ Y tế thống kê từ 40-50 bệnh viện lớn trên cả nước, tỷ lệ phần trăm chấn thương sọ não liên quan đến tai nạn giao thông đang diễn biến phức tạp và có dấu hiệu gia tăng. Năm 2010 là 17.8%, năm 2011 là 17.3%, năm 2012 là 22.3%, năm 2013 là 25.1% . Một trong lý do dẫn đến tình trạng này là do người tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy sử dụng mũ bảo hiểm không đạt chuẩn hoặc mũ giả mạo mũ bảo hiểm không đội mũ bảo hiểm. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, tỷ lệ người tham gia giao thông đội mũ giả mạo mũ bảo hiểm (mũ lưỡi trai nhựa) khá cao, trung bình khoảng 20% trên cả nước, 40% tại các thành phố lớn như Hà Nội (số liệu dựa trên 2,5 triệu quan sát thực tế người tham gia giao thông trên toàn quốc).

Thực tế đặt ra yêu cầu cấp bách cho thấy chúng ta phải có giải pháp hiệu quả hơn, chất lượng hơn quá trình sử dụng mũ bảo hiểm trên thị trường. 

Hoàng Loan - loanhoang25@gmail.com
Xin ông làm rõ các điều kiện quy định đối với doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm?
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Về điều kiện đối với doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm, các điều kiện đã được quy định rất cụ thể tại Điều 5 của Nghị định số 87/2016/NĐ-CP, cụ thể:

1. Phải là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;

2. Doanh nghiệp phải có hệ thống quản lý chất lượng được xây dựng và duy trì áp dụng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 (ISO 9001);

3. Phải có ít nhất 01 nhân viên kỹ thuật có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng chuyên ngành khoa học kỹ thuật trở lên, đượcký kết hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên hoặc ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

4. Cơ sở vật chất, kỹ thuật: 

+ Có địa điểm sản xuất có địa chỉ rõ ràng, cụ thể;

+ Có diện tích mặt bằng để lắp đặt trang thiết bị sản xuất, kiểm tra chất lượng; 

+ Về trang thiết bị của dây chuyền sản xuất: phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật để sản xuất mũ bảo hiểm có chất lượng phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn công bố áp dụng, bao gồm: thiết bị ép (đúc/đùn) và khuôn mẫu phù hợp để sản xuất vỏ mũ; thiết bị ép (đúc) và khuôn mẫu phù hợp để sản xuất lớp hấp thụ xung động (mút xốp); thiết bị dập (tán) đinh tán (dùng để ghép các cụm chi tiết); hoặc thiết bị đồng bộ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các thiết bị nêu trên;

+ Về trang thiết bị kiểm tra chất lượng: phải có phòng thử nghiệm hoặc thuê của tổ chức, doanh nghiệp khác, đủ năng lực thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng của mũ bảo hiểm phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hay tiêu chuẩn công bố áp dụng. Phòng thử nghiệm phải có năng lực đáp ứng yêu cầu quy định của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025.

Mỹ Duyên - nguyenthimyduyen@gmail.com
Nghị định số 87/2016/NĐ-CP đã có hiệu lực. Ông đánh giá như thế nào về tác động của văn bản này đối với thị trường cũng như người tiêu dùng sử dụng MBH?
Ông Trần Hữu Minh - Phó Chánh văn phòng, UB An toàn Giao thông Quốc gia

Đây là một văn bản quy định pháp luật rất cần thiết.

Cho đến trước ngày 1/7/2016, các quy định về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm được quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BKHCN-BCT-BCA-BGTVT đến nay đã hết hiệu lực thi hành. Hơn nữa, những quy định tại Thông tư này không những thiếu những điều kiện pháp lý cần thiết để tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời những quy định trong thông tư này không đưa ra những điều kiện đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh mà chỉ đơn thuần hướng vào các quy định về sự tuân thủ quy chuẩn về chất lượng của sản phẩm cuối cùng.

Mũ bảo hiểm chỉ có tác dụng nếu đạt chất lượng, Để bảo đảm chất lượng cuối cùng: có hai cách tiếp cận: chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng – và cách hai là xây dựng một quy trình và quản lý cả quy trình, ISO.

Khi nghị định 87 ra đời đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc quản lý chất lượng mũ bảo hiểm, tạo niềm tin cho nhân dân và dần dần ổn định thị trường mũ bảo hiểm theo xu hướng tích cực.

Nghị định 87 đã xác lập những quy trình cơ bản để quản lý chất lượng đầu ra. 

Quốc Cường - quoccuong1256@gmail.com
Xin ông cho biết mục đích của việc ban hành Nghị định số 87/2016/NĐ-CP Quy định về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy?
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy
Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Ông Nguyễn Quốc Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy

Ngày 26/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư. Tại Khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư quy định điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.

Ngành, nghề “Kinh doanh dịch vụ mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” (Số thứ tự 217) được đưa vào Phụ lục 4 Luật Đầu tư (Danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện).

Thực hiện quy định của Luật Đầu tư năm 2014, ngày 01/7/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy.

Mục tiêu của Nghị định:

+ Góp phần quản lý chặt chẽ mũ bảo hiểm theo chuỗi trong quá trình sản xuất từ quản lý chất lượng vật tư đầu vào, quản lý trong quá trình sản xuất và quản lý chất lượng mũ bảo hiểm thành phẩm.

+ Tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về chất lượng mũ bảo hiểm.

+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, an toàn tính mạng cho người sử dụng khi tham gia giao thông.

-
Khách mời

Trong khuôn khổ của chương trình giao lưu trực tuyến, các khách mời đã giải đáp nhiều nội dung liên quan đến hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng cho doanh nghiệp. Dưới đây là toàn bộ nội dung này.

Trang Phạm - trangpht@gmail.com
Theo ông khi triển khai các hoạt động NSCL tại địa phương sẽ có những khó khăn gì, xin cho biết giải pháp?
Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Theo tôi, một số khó khăn khi triển khai các hoạt động NSCL tại địa phương có thể kể đến như sau: 

Thứ nhất, hoạt động NSCL chưa được thực sự quan tâm ở cấp cao nhất của doanh nghiệp (Tổng giám đốc, Giám đốc). Kinh nghiệm cho thấy nếu như Tổng giám đốc, Giám đốc có nhận thức và thực sự mong muốn các hệ thống quản lý tiên tiến, các công cụ NSCL là công cụ thực sự giúp nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá của chính mình, nâng cao năng lực quản trị của chính doanh nghiệp mình thì việc áp dụng là thành công. Ngược lại, nếu như chỉ làm theo phong trào hoặc giao phó việc này cho cán bộ quản lý cấp trung gian thì hiệu quả là khá thấp. 

Thứ hai, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, chuyên gia NSCL còn hạn chế, mỏng cả về số lượng và chất lượng so với yêu cầu của công tác quản lý nhà nước cũng như hoạt động thúc đẩy nâng cao NSCL tại doanh nghiệp.

Thứ ba, kinh phí đầu tư cho dự án NSCL địa phương còn hạn hẹp; nhiều địa phương không có điều kiện đầu tư hoặc chưa ưu tiên đầu tư kinh phí cho Dự án. Các dự án hầu hết sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học, chưa huy động được các nguồn kinh phí khác, vai trò, trách nhiệm và vốn đối ứng của doanh nghiệp tham gia dự án chưa nhiều.

Thứ tư, sự tham gia của doanh nghiệp, chủ thể của hoạt động NSCL còn hạn chế, chưa chủ động, tích cực:

+ Đối tượng của dự án NSCL địa phương là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Lãnh đạo ở nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm hoặc quan tâm chưa đầy đủ đến hoạt động nâng cao NSCL; không trực tiếp tham gia vào dự án cải tiến NSCL, giao phó hoàn toàn cho cấp dưới; thiếu sự cam kết, quyết tâm của lãnh đạo doanh nghiệp (đặc biệt là người đứng đầu).

+ Doanh nghiệp chưa thoát khỏi khó khăn về kinh tế, tập trung vào tìm kiếm công ăn việc làm, chưa đầu tư hoặc không có khả năng đầu tư cho các hoạt động cải tiến NSCL (về nhân lực, vật lực, thời gian…); chưa đủ điều kiện thực hiện các dự án cải tiến tại DN;

+ Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chất lượng tại doanh nghiệp còn thiếu, yếu; chưa được đào tạo bài bản; hoạt động kiêm nhiệm, không có nhiều thời gian để tập trung cho các dự án cải tiến NSCL. Còn có sự thay đổi thường xuyên về nhân lực.

+ Tâm lý ngại thay đổi, làm việc theo thói quen cũ. Doanh nghiệp chưa xây dựng được cơ chế thưởng, phạt rõ ràng; chưa khuyến khích được người lao động tự giác thực hiện các dự án cải tiến NS.

+ Nguồn lực của doanh nghiệp còn hạn hẹp, chưa đủ điều kiện để đầu tư đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất theo yêu cầu của dự án…

+ Thủ tục để được hỗ trợ ở nhiều địa phương còn rườm rà, phức tạp, mức hỗ trợ thấp dẫn đến doanh nghiệp không muốn tham gia.

Để khắc phục những khó khăn trên, theo tôi một số giải pháp thúc đẩy hoạt động NSCL ở địa phương cần được triển khai như sau: 

- Tăng cường vai trò tham mưu, tư vấn của cơ quan quản lý dự án NSCL tại địa phương (Sở KH&CN, Chi cục TĐC);

- Ưu tiên hơn trong bố trí kinh phí thực hiện dự án NSCL;

- Thiết lập được đội ngũ chuyên gia NSCL tại địa phương;

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vấn đề NSCL;

- Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho DN khi tiếp cận dự án NSCL;

- Xây dựng được một số mô hình điểm tại địa phương để các DN khác học tập, nhân rộng;

- Thực hiện phối hợp, lồng ghép dự án NSCL với các Chương trình, dự án phát triển KTXH khác của địa phương để tập trung được nguồn lực hỗ trợ phát triển các SPHH chủ lực của địa phương.

 

Vân Anh - ngovananh@gmail.com
Hiện nay các ngành dịch vụ như Ngân hàng, du lịch, bán lẻ, y tế… đang được chuẩn hóa bằng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO. Theo bà lợi ích của việc đưa ISO vào ngành dịch vụ mang lại lợi ích như thế nào cho tổ chức, doanh nghiệp?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Hiện nay các ngành dịch vụ như ngân hàng, du lịch, bán lẻ, y tế… đang được chuẩn hóa bằng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO. Việc ứng dụng ISO trong các ngành dịch vụ cũng mang lại những lợi ích tương tự như trong các ngành công nghiệp khác.

Mai Văn Tuấn - tuanmai89@gmail.com
Với vai trò là cơ quan thường trực, Tổng cục đã có những triển khai như thế nào đối với hoạt động NSCL tại địa phương?
Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
 Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Nguyễn Hoàng Linh trả lời nhiều câu hỏi bạn đọc quan tâm gửi về chương trình Giao lưu trực tuyến do Chất lượng Việt Nam - VietQ.vn tổ chức

Dự án "Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương” là một trong 09 dự án thành phần thuộc Chương trình NSCL được Thủ tướng Chính phủ giao cho UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì.

Đến nay 56/63 dự án NSCL địa phương đã được phê duyệt và triển khai thực hiện.

Các hoạt động chính đã triển khai ở địa phương gồm:

- Thành lập Ban Điều hành/Ban chỉ đạo dự án NSCL địa phương; xây dựng quy chế làm việc của Ban Điều hành/Ban Chỉ đạo dự án; xây dựng quy định về quản lý các nhiệm vụ thuộc dự án; quy định về định mức kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp;

- Xác định sản phẩm hàng hóa chủ lực của địa phương; xác định các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh SPHH chủ lực;

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về Chương trình, dự án (các hội nghị, hội thảo, viết bài, đăng bài trên các phương tiện thông tin đại chúng...);

- Cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về năng suất chất lượng do Bộ Khoa học và Công nghệ (Tổng cục TCĐLCL) tổ chức trong khuôn khổ dự án 1, 2. Trực tiếp tổ chức các lớp đào tạo về năng suất chất lượng cho cán bộ các sở, ban ngành, doanh nghiệp tại địa phương;

- Tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia xây dựng và thực hiện dự án NSCL tại doanh nghiệp, thực hiện điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng doanh nghiệp; tư vấn hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng dự án NSCL tại doanh nghiệp; tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến NSCL; áp dụng TCVN, QCVN; xây dựng, áp dụng TCCS...

- Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp về phát triển tài sản trí tuệ; ứng dụng và đổi mới công nghệ; tiết kiệm năng lượng...

Tổng cục đã hỗ trợ các địa phương trong việc hướng dẫn xây dựng dự án; góp ý, thẩm định dự án trước khi phê duyệt; hỗ trợ đào tạo chuyên gia, giảng viên, báo cáo viên NSCL; cung cấp tư liệu, tài liệu phục vụ cho hoạt động thông tin, truyền thông; hướng dẫn tính toán chỉ tiêu TFP…).

Lê Thùy Dương - thuyduonglee@gmail.com
Xin ông cho biết, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang thực hiện dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến Năng suất chất lượng trong doanh nghiệp như thế nào? Có số liệu nào thể hiện sự thành công của việc áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng này tại doanh nghiệp hay không?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn như hiện nay, thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng quan trọng hơn bao giờ hết. Các hệ thống quản lý và các công cụ cải tiến năng suất chất lượng là một trong những “vũ khí” cần thiết để giúp cho doanh nghiệp đạt được điều đó. Doanh nghiệp nào cũng biết là nâng cao được năng suất đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả hoạt động, nhờ đó doanh nghiệp có thể đảm bảo cho sự tồn tại và có cơ sở để phát triển. Còn chất lượng được coi là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc người tiêu dùng tin tưởng và sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ của doanh nghiệp. Nếu đảm bảo được chất lượng, doanh nghiệp có cơ hội bán được nhiều sản phẩm hơn, uy tín được nâng cao và cũng sẽ giành được thị phần trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài.

Tuy nhiên, làm sao để đạt được hiệu quả cao, chất lượng được đảm bảo thì là cả một vấn đề. Mỗi Lãnh đạo doanh nghiệp lại có cách nhìn khác nhau, hiểu về hệ thống và công cụ khác nhau…từ đó dẫn đến phương pháp áp dụng rất khác nhau, và tất nhiên là kết quả cũng khác nhau. Hiện nay chúng ta chỉ có số liệu thống kê về SỐ LƯỢNG các Doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn quản lý và được cấp chứng chỉ hay SỐ LƯỢNG doanh nghiệp áp dụng các công cụ như Lean, TPM, hay 5S…nhưng theo tôi biết, chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách định lượng hiệu quả mà ISO 9000 hay 14000…mang lại. Ngoại trừ những doanh nghiệp áp dụng Lean, mà chủ yếu trong ngành may mặc, có thể thống kê và tính toán được sự thay đổi các chỉ tiêu năng suất. Hay việc áp dụng 5S cho thấy hình ảnh doanh nghiệp và ý thức người lao động tốt hơn. Còn hiệu quả của các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn là điều khó lượng hóa được. Hiện nay còn rất doanh nghiệp đang áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ở Việt Nam theo kiểu phong trào,phục vụ cho mục đích “đánh bóng thương hiệu”. Những doanh nghiệp này không áp dụng ISO 9000 một cách thực chất nên không những không gặt hái được thành công mà còn tốn kém, lãng phí.

Số liệu để thể hiện sự thành công trong việc áp dụng các hệ thống quản lý và các công cụ nâng cao năng suất chất lượng thì có lẽ chỉ có kết quả nghiên cứu của đề tài khảo sát điều tra 2000 doanh nghiệp do VNPI thực hiện (Có thể có nghiên cứu khác mà không công bố). Đề tài cũng chỉ thống kê số lượng các doanh nghiệp có áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng, qua phân tích định lượng cho thấy việc áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến có tác động đến việc nâng cao năng suất với ý nghĩa thống kê hay mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến nâng cao năng suất như thế nào…

Minh Quyết - minhquyet1988@gmail.com
Chất lượng ngành dịch vụ Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, ví dụ như chất lượng ngành du lịch đang có nhiều vấn đề. Bà có những đề xuất gì để cải thiện chất lượng ngành dịch vụ của Việt Nam hay không?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Ngành du lịch giàu tiềm năng và đang có nhiều cơ hội phát triển. Với tư cách là một người yêu thích du lịch tôi mong muốn ngành du lịch sẽ làm được những việc sau để nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và quốc tế của người dân, kỳ vọng vào sự đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế đất nước: 

- Nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng. Hạn chế và tiến tới xóa bỏ tình trạng "chặt chém" 

- Có biện pháp bảo tồn các di tích và mở rộng các điểm đến du lịch cho khách trong nước và quốc tế

- Chăm sóc các đội ngũ hướng dẫn viên, đào tạo và bồi dưỡng một cách chuyên nghiệp

- Có sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả với hệ thống khách sạn, nhà hàng 

- Tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng và năng suất trong dịch vụ du lịch.

Phạm Hà Mai - maipham2865@gmail.com
Thực tế cho thấy, chất lượng đội ngũ chuyên gia về NSCL ở Việt Nam chưa mạnh, đặc biệt là ở các địa phương còn rất yếu. Kinh phí triển khai chương trình 712 còn hạn hẹp.Xin ông cho biết, điều này ảnh hưởng như thế nào đến tính hiệu quả của Chương trình?
Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Theo báo cáo, Chương trình quốc gia "Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp” Việt Nam đến năm 2020” (Chương trình 712) đã triển khai thực hiện được gần 06 năm với rất nhiều các nội dung, nhiệm vụ hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp. Trong đó có nhiều kết quả nổi bật.

Để có được những kết quả đó, vai trò của đội ngũ chuyên gia là không thể phủ nhận. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, số lượng cũng như chất lượng chuyên gia về năng suất và chất lượng còn rất hạn chế, mặc dù các địa phương đều đặt ra những mục tiêu như: Đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia về năng suất chất lượng cho các sở, ngành, làm hạt nhân cho các hoạt động cải tiến nâng cao năng suất chất lượng trong tỉnh và phục vụ các hoạt động quản lý về năng suất, chất lượng của tỉnh;  Đào tạo kiến thức nâng cao năng suất chất lượng cho cán bộ nòng cốt của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh.

Một số nguyên nhân dẫn đến đội ngũ chuyên gia về năng suất và chất lượng ở các địa phương còn yếu và thiếu:

-       Các địa phương/ ngành và doanh nghiệp chưa thực sự xây dựng được chiến lược phát triển đội ngũ chuyên gia về năng suất và chất lượng hay cán bộ nòng cốt cho những hoạt động này. Chủ yếu là cử cán bộ/ nhân viên tham gia các khóa đào tạo khi có thông báo.

-      Thời lượng và chương trình đào tạo thực sự là chưa đủ để có thể đào tạo một người trở thành chuyên gia năng suất và chất lượng. (Do kinh phí hạn hẹp nên thông thường một khóa đào tạo chỉ kéo dài 10-15 ngày, và thiếu thời gian để đi thực tế tại doanh nghiệp)

-      Các doanh nghiệp do thiếu chiến lược phát triển nhân sự nòng cốt cho các hoạt động năng suất chất lượng nên thường cử những nhân viên nhàn rỗi trong công việc chuyên môn, hoặc cử nhân viên thuộc bộ phận chất lượng (QC, QA…) nhưng những người này sau khi đi học về thì thiếu cơ chế khuyến khích hoặc sự đầu tư cần thiết để họ có thể áp dụng những gì được học vào công việc hàng ngày.

Cao Trung Dũng - dungcao4890@gmail.com
Các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến được doanh nghiệp lựa chọn áp dụng mang lại hiệu quả nhất được Viện Năng suất triển khai trong thời gian qua?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

Trong thời gian qua, đặc biệt từ khi có chương trình 712, VNPI đã cung cấp rất nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng. Bao gồm cả các hệ thống theo tiêu chuẩn như ISO 9000, ISO 22000, ISO 14000, ISO 50000…và phi tiêu chuẩn như Lean (Giúp doanh nghiệp xác định và loại bỏ lãng phí trong quá trình SXKD nhằm đạt hiệu quả cao hơn), TPM (Tập trung vào nâng cao hiệu suất thiết bị, giúp doanh nghiệp quản lý trang thiết bị, máy móc, công nghệ bài bản và đạt hiệu suất sử dụng cao nhất), KPIs (Giúp doanh nghiệp biến các mục tiêu chiến lược thành những chỉ số đo lường cụ thể để theo dõi và điều chỉnh kịp thời trong quá trình SXKD), 5S (giúp nâng cao năng suất lao động, ý thức của nhân viên trong quá trình thực hiện công việc, cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt đối tác và khách hàng….) và các giải pháp tích hợp các hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng.

Dưới góc độ của doanh nghiệp thông qua những phản hồi chúng tôi ghi nhận được, những giải pháp mang lại hiệu quả thực sự ấn tượng đối với doanh nghiệp có thể nói là: Lean và các công cụ của Lean và chương trình thực hành tốt 5S. Trong thời gian qua, VNPI thông qua chương trình 712 đã hướng dẫn áp dụng Lean cho rất nhiều doanh nghiệp trong ngành may mặc (Tổng Công ty may Đức Giang, Công ty may Nam Hà…năng suất đã tăng bình quân khoảng 15 – 20%.).Hay việc triển khai chương trình thực hành tốt 5S trong các doanh nghiệp ngành điện (Tổng Công ty Điện lực Miền bắc – NPC, sau khi thực hiện ở các Công ty Điện lực ở địa phương, một số cơ quan hành chính ở địa phương đã đến học hỏi cách làm để về áp dụng tại cơ quan..). Hầu hết các doanh nghiệp áp dụng Lean và 5S đều có phản hồi là năng suất lao động và hình ảnh doanh nghiệp được cải thiện và quan trọng nhất là ý thức của người lao động được nâng lên rõ rệt.

Gia Bách - giabachtran2212@gmail.com
Bà có thể cho biết thách thức của ngành bán lẻ Việt Nam. Cơ hội và lợi thế để doanh nghiệp bán lẻ hội nhập là gì?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam
 Bà Đinh Thị Mỹ Loan

Ngành dịch vụ bán lẻ Việt Nam (VN) đứng trước những thách thức lớn trên con đường phát triển vì xuất phát điểm từ bán lẻ truyền thống 100%, các định dạng bán lẻ hiện đại hiện còn chiếm tỷ lệ thấp. Bên cạnh đó, những thách thức về nguồn lực tài chính, tính chuyên nghiệp, logicstics trong bán lẻ, chất lượng nguồn nhân lực cũng là những vấn đề lớn cần phải được giải quyết.

Tuy vậy, cơ hội và lợi thế của doanh nghiệp bán lẻ cũng có rất nhiều như: thị trường ngày càng phát triển, nhu cầu mua sắm tiêu dùng được cải thiện, lực lượng người tiêu dùng trẻ và năng động, tốc độ đô thị hóa cao, các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ bán lẻ có nhiều nỗ lực và linh hoạt trong bối cảnh hội nhập để đứng vững và phát triển,...

Hà Văn Thủy - thuyvan126@gmail.com
Xin hỏi ông Linh - Khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ có cần cải tiến năng suất chất lượng hay không?
Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Theo tôi, việc này đương nhiên là rất cần thiết.

Trước bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, yêu cầu phát triển dịch vụ càng có ý nghĩa to lớn. Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, đóng góp của ngành Dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng. Giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,31%/năm, Năm 2016, GDP tăng hơn 6,21% so với năm 2015, trong đó, khu vực dịch vụ tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với 6,98% với sự đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán buôn và bán lẻ, Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, Hoạt động kinh doanh bất động sản, Dịch vụ lưu trú và ăn uống …

Tuy nhiên, theo Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ươngsự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, tốc độ tăng chưa bền vững. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, quy mô và chất lượng dịch vụ của Việt Nam còn thấp; Tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP của nền kinh tế theo hướng dịch vụ hóa còn rất chậm, so với 5 năm trước, tỷ trọng của các ngành Dịch vụ trong GDP hầu như không thay đổi và mức độ tác động lan tỏa thấp. Hiện ngành Dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 40% GDP, tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tại Việt Nam, các ngành dịch vụ thậm dụng tri thức, khoa học và công nghệ phát triển còn chậm. Các ngành dịch vụ mang tính chất “động lực” hay “huyết mạch”, có hàm lượng tri thức cao như: Tài chính - tín dụng, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế… còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP của toàn nền kinh tế và cũng thấp hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực, phản ánh chất lượng tăng trưởng không cao.

Bên cạnh đó, hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gian lớn, chưa kết nối thông suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ; Chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao; Sự gắn kết giữa công nghiệp - nông nghiệp với dịch vụ còn nhiều bất cập; …Ngoài ra, tuy số lượng doanh nghiệp trong ngành Dịch vụ tăng nhanh nhưng quy mô còn rất nhỏ và giá trị gia tăng bình quân của một doanh nghiệp dịch vụ đang có xu hướng giảm. Có thể nói, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Từ nhận định như trên, nâng cao năng suất, chất lượng và đa dạng hóa loại hình dịch vụ gắn với việc phát triển của khoa học công nghệ và vai trò của kinh tế tri thức, phát triển dịch vụ trung gian nhằm tăng cường sự kết nối bổ trợ giữa các ngành kinh tế là việc làm hết sức cần thiết.

Phạm Thu Hà - thuha1994@gmail.com
Cùng một hệ thống quản lý, cùng một công cụ cải tiến có thể áp dụng cho tất cả các mô hình doanh nghiệp hay không? Việc đầu tiên doanh nghiệp cần thực hiện là gì khi triển khai áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

Về mặt lý thuyết, có một số hệ thống quản lý hoặc công cụ cải tiến năng suất chất lượng có thể áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, ví dụ:bộ tiêu chuẩn ISO 9000, hay các công cụ như Kaizen (triết lý về cải tiến theo phương pháp quản lý của người Nhật), 5S (giúp nâng cao năng suất lao động, ý thức của nhân viên trong quá trình thực hiện công việc, cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt đối tác và khách hàng….), Hệ thống quản lý tinh gọn Lean (giúp Doanh nghiệp xác định và loại bỏ lãng phí trong quá trình SXKD nhằm đạt hiệu quả cao hơn)… Ngoài ra còn có những hệ thống quản lý áp dụng cho những ngành công nghiệp đặc thù như TS 16949 (Áp dụng trong ngành công nghiệp ô tô), ISO 22000 - HACCP (Quản lý an toàn thực phẩm), GAP (Hệ thống thực hành nông nghiệp tốt)…áp dụng cho doanh nghiệp trong lĩnh vực yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc những ngành sản xuất đòi hỏi tiêu chuẩn vệ sinh cao như sản xuất bao bì thực phẩm, chế biến thức ăn, thực phẩm…

Trong thực tế, trước khi bắt tay áp dụng bất kỳ hệ thống quản lý hay công cụ cải tiến năng suất nào, doanh nghiệp cần phải hiểu rõ bối cảnh của doanh nghiệp mình và hiểu rõ về những lợi ích mà từng hệ thống quản lý hay công cụ cải tiến có thể mang lại cho doanh nghiệp. Nếu không rõ doanh nghiệp mạnh hay yếu ở những khu vực nào hay doanh nghiệp thực sự khó khăn về vấn đề gì thì việc áp dụng bất kỳ hệ thống quản lý hay công cụ sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn.

Việc lựa chọn đúng hệ thống quản lý hay công cụ cải tiến là vấn đề quan trọng đầu tiên mà Lãnh đạo doanh nghiệp cần cân nhắc. Hệ thống quản lý hay công cụ cải tiến năng suất chất lượng nào sẽ giải quyết được vấn đề cụ thể gì của doanh nghiệp? Nguồn lực hiện có của doanh nghiệp như thế nào? Có phù hợp để áp dụng công cụ hay không…

Thúy Vy - phungthuyvy93@gmail.com
Năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá là đang thấp so với nhiều nước trong khu vực. Theo bà, điều gì đã gây cản trở việc tăng năng suất lao động của doanh nghiệp VN?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá là đang thấp so với nhiều nước trong khu vực và đây là điều đáng lo ngại, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Những cản trở việc tăng năng suất lao động của DN Việt Nam có thể chia thành 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Những cản trở về mặt nhận thức, thông tin. Còn khá nhiều DN chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của tăng năng suất lao động, chưa tiếp cận được với các nguồn thông tin phong phú hoặc chưa có kịp thời các thông tin cập nhật.

Nhóm 2: Những cản trở từ phía con người (nguồn nhân lực). Nguồn nhân lực cả ở phía lao động trực tiếp và quản trị cấp trung và cấp cao chưa được chuẩn bị để tham gia vào quá trình tăng tăng năng suất chất lượng từ góc độ vi mô, của từng DN.

Nhóm 3: Những cản trở về công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ (KHKTCN). Bên cạnh yếu tố con người thì việc ứng dụng KHKTCN vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thời đại kỹ thuật số, internet, thương mại điện tử,.... Để ứng dụng được những thành tựu KHKT cần nguồn lực lớn về tài chính để mua sắm trang thiết bị máy móc; know-how...; đào tạo sử dụng và quản lý...

 

Phương Linh - linhtranphuong78@gmail.com
Có ý kiến cho rằng, hiện nay việc áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến Năng suất chất lượng được triển khai ở khối DN sản xuất nhiều hơn là khối dịch vụ. Ông có thể lý giải tại sao lại có tình trạng này?
Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Đúng là trong thời gian vừa qua có nhiều doanh nghiệp hiểu chưa đúng về lợi ích mà các Hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất mang lại cho doanh nghiệp nên họ cho rằng chủ yếu áp dụng ở doanh nghiệp có hoạt động sản xuất. Để lý giải cho tình trạng như vậy, xin đưa ra một số nhận định như sau:

-       Khi ISO 9001 được giới thiệu vào Việt nam, những doanh nghiệp đầu tiên áp dụng là những doanh nghiệp sản xuất. Lãnh đạo các DN cho rằng sản xuất mới có trình tự các bước để thực hiện, còn kinh doanh hay dịch vụ là linh hoạt nên không cần ISO 9001. Họ quan niệm làm ISO là viết quy trình nên khối dịch vụ không cần. Những phiên bản đầu tiên của tiêu chuẩn có thiên về văn bản hóa các quá trình nên doanh nghiệp có suy nghĩ như vậy. Nhưng từ phiên bản năm 2000 của ISO 9001, cách tiếp cận đã khác đi nhưng sự thay đổi của nhận thức luôn chậm hơn.

-       Khái niệm “Chất lượng dịch vụ” mới thực sự được quan tâm trong những năm gần đây. Trước kia khi nói đến chất lượng, mọi người thường nghĩ đến chất lượng sản phẩm. Đó cũng là một trong những lý do phiên bản ISO 9001: 2015 đề cập rất rõ: “Sản phẩm và dịch vụ” thay vì chỉ dùng thuật ngữ "sản phẩm" trong các yêu cầu mới của tiêu chuẩn để tránh sự hiểu không chính xác trong quá trình áp dụng. 

Hoàng Ngọc Hải - hoanghai57@gmail.com
Thực hiện Dự án 712 đã có nhiều doanh nghiệp thành công trong việc áp dụng các hệ thống quản lý và các công cụ cải tiến năng suất, xin ông cho biết lý do thành công của họ là gì?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam
 Ông Cao Hoàng Long

Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam Cao Hoàng Long trong chương trình Giao lưu trực tuyến

Kể từ khi triển khai dự án 712, đã có nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ từ các đơn vị trực thuộc Tổng cục cũng như các chương trình dự án của địa phương (Đầu mối là các Sở KH&CN…) và có rất nhiều bài học thành công có thể nhân rộng cho các doanh nghiệp khác.

Có nhiều lý do để minh chứng cho sự thành công của các doanh nghiệp trong việc áp dụng các hệ thống quản lý và các công cụ cải tiến năng suất, nhưng lý do quan trọng nhất phải nói đến là sự nhận thức và cam kết mạnh mẽ từ đội ngũ Lãnh đạo Doanh nghiệp.

Khi Lãnh đạo doanh nghiệp hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích mà doanh nghiệp có được khi áp dụng các công cụ nâng cao năng suất chất lượng sẽ có sự đầu tư hợp lý cả về vật chất, tinh thần và thời gian cần thiết cho việc áp dụng. Ngoài ra khi Lãnh đạo thực sự cam kết sẽ tạo được môi trường tốt cho đội ngũ quản lý và toàn thể CBNV trong quá trình áp dụng.

Thảo Linh - thaolinhtran@gmail.com
Bà ý kiến như thế nào khi hiện nay việc áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng được triển khai ở khối dịch vụ còn chưa được doanh nghiệp (DN) quan tâm đúng mức?
Bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Tôi cũng thấy rằng việc áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất chất lượng được triển khai ở khối doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn là khối dịch vụ điều này cũng được lý giải một phần ở Việt Nam dường như lĩnh vực sản xuất thường được chú trọng nhiều hơn là lĩnh vực dịch vụ ở nhiều phương diện...

Tuy nhiên, tôi cho rằng khối doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ cũng rất cần cải tiến năng suất chất lượng vì chỉ có làm như vậy lĩnh vực dịch vụ mới có thể bứt phá, nâng cao sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập, đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế đất nước và đòi hỏi của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và mở cửa thị trường.

Nguyễn Hoàng Hải Yến - haiyennguyen@gmail.com
Viện Năng suất đã triển khai xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất ở rất nhiều các doanh nghiệp, xin ông cho biết những vướng mắc, khó khăn doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện các hoạt động này là gì?
Ông Cao Hoàng Long - Chuyên gia tư vấn - đào tạo Viện Năng suất Việt Nam

Kể từ khi được thành lập, đến nay có hàng ngàn doanh nghiệp được Viện Năng suất Việt Nam (VNPI) đào tạo và hỗ trợ áp dụng các hệ thống quản lý và công cụ nâng cao năng suất chất lượng. Có rất nhiều bài học thành công và cũng có những bài học thất bại. Khó khăn lớn nhất các doanh nghiệp gặp phải thường là

- Nhận thức của Lãnh đạo về hệ thống quản lý: Lãnh đạo quyết đinh áp dụng hệ thống quản lý chỉ với mục đích có chứng chỉ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc yêu cầu của bài thầu nào đó; Lãnh đạo cam kết nửa vời, Lúc đầu rất quyết tâm, sau đó, trong quá trình áp dụng không dành đủ nguồn lực và thời gian cần thiết do phải tập trung lo “cơm áo gạo tiền”, thiếu cơ chế chính sách để khuyến khích người lao động…

- Ý thức của đội ngũ nhân viên (cả nhân viên quản lý) trong quá trình áp dụng: Họ thực hiện các yêu cầu với tính chất đối phó, làm cho xong việc chứ không quan tâm đến chuyện làm sao để thực hiện công việc tốt hơn, hiệu quả hơn…

- Còn ít doanh nghiệp quan tâm và đầu tư cho việc đào tạo, huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ hay cung cấp kiến thức về quản lý cho nhân viên. Họ cho rằng việc đào tạo như vậy chỉ làm tăng chi phí hoạt động, ít mang lại hiệu quả…điều này được chứng minh qua nhiệm vụ “đánh giá thực trạng năng suất lao động thông qua khảo sát và điều tra 2000 doanh nghiệp của 7 ngành kinh tế” do VNPI thực hiện. Chỉ có khoảng 34% doanh nghiệp quan tâm tới việc đào tạo và đào tạo lại cho CBCNV.

- Doanh nghiệp thiếu sự quan tâm đầu tư cho các dự án nghiên cứu, phát triển và cải tiến năng suất và đổi mới công nghệ, một phần do chưa nhận thức được sự cần thiết của việc đầu tư cho các hoạt động này, một phần do sự hạn chế về nguồn lực, doanh nghiệp quy mô nhỏ không có năng lực cho phát triển khoa học và công nghệ nên phải loay hoay trong bài toán công nghệ giá rẻ, bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng đang còn thiếu một tầm nhìn chiến lược dài hạn về phát triển. (Chỉ khoảng 10% doanh nghiệp có đầu tư cho hoạt động KH&CN).

- Hầu như các doanh nghiệp đều không có mục tiêu, chiến lược liên quan đến năng suất chất lượng.

thương hiệu doanh nghiệp

Về đầu trang