Từ nguyên liệu đến sản phẩm xuất khẩu: Khâu nào quyết định năng suất ngành cao su?
(VietQ.vn) - Từ năng suất vườn cây, nguồn nguyên liệu đến chế biến và kiểm soát chất lượng, mỗi công đoạn đều có ảnh hưởng đến hiệu quả của ngành cao su. Khi thị trường xuất khẩu đặt thêm yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững, bài toán năng suất không còn chỉ nằm ở việc khai thác được bao nhiêu mủ mà còn ở cách doanh nghiệp tổ chức và kiểm soát cả chuỗi sản xuất.
Năng suất bắt đầu từ vườn cây và nguồn nguyên liệu
Theo thống kê mới nhất về cao su thiên nhiên Việt Nam năm 2024 được Hiệp hội Cao su Việt Nam công bố tháng 2/2026, cả nước có khoảng 909.300 ha cao su, trong đó diện tích thu hoạch khoảng 734.800 ha. Sản lượng đạt 1,33 triệu tấn, năng suất bình quân 1.807 kg/ha. Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu 1,91 triệu tấn cao su thiên nhiên, trị giá 3,33 tỷ USD.
Những con số này cho thấy năng suất vườn cây vẫn là một yếu tố quan trọng của chuỗi cao su. Tuy nhiên, để nâng hiệu quả sản xuất, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến cách tổ chức chăm sóc, khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu.

Vườn cao su là khâu đầu tiên quyết định năng suất và chất lượng nguồn nguyên liệu cho ngành cao su.
Tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), năm 2024 tập đoàn khai thác 445.041 tấn mủ, đạt 100,2% kế hoạch; chế biến 499.633 tấn và thu mua 77.942 tấn cao su. Theo VRG, việc thu mua mủ từ các hộ tiểu điền giúp bổ sung nguồn nguyên liệu, tận dụng công suất các nhà máy chế biến và góp phần ổn định sản lượng chế biến.
Ở khâu sản xuất, VRG cũng cho biết năm 2024 năng suất vườn cây bình quân đạt 1,52 tấn/ha. Tập đoàn xác định cơ giới hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin là những giải pháp được chú trọng nhằm nâng hiệu quả sử dụng đất, năng suất vườn cây và năng suất lao động.
Như vậy, năng suất không chỉ được quyết định bởi sản lượng mủ trên mỗi hecta. Việc tổ chức lao động, cơ giới hóa và chủ động nguồn nguyên liệu cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất và chế biến.
Nhưng khi mủ được đưa vào nhà máy, một bài toán khác xuất hiện: làm thế nào để nguyên liệu được kiểm soát và chế biến ổn định thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Kiểm soát nguyên liệu, chất lượng để đi xa hơn
Trong quá trình chế biến, tiêu chuẩn là một trong những cơ sở kỹ thuật giúp doanh nghiệp kiểm tra và đánh giá nguyên liệu, sản phẩm theo phương pháp thống nhất.
Đối với cao su thiên nhiên, TCVN 3769:2016 quy định yêu cầu kỹ thuật đối với cao su thiên nhiên SVR. TCVN 6086:2020 quy định cách lấy mẫu và chuẩn bị mẫu cao su thiên nhiên thô, cao su tổng hợp thô trước khi thử nghiệm. Trong khi đó, TCVN 6089:2016 quy định phương pháp xác định hàm lượng tạp chất trong cao su thiên nhiên thô.
Bên cạnh chất lượng, truy xuất nguồn gốc đang trở thành vấn đề được ngành cao su quan tâm khi tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao. Tháng 7/2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã ban hành hướng dẫn tạm thời tuân thủ Quy định của Liên minh châu Âu về chống mất rừng (EUDR) đối với ngành hàng cao su. Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, hướng dẫn nhằm hỗ trợ các chủ thể trong chuỗi cung ứng chuẩn bị thông tin, dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.

Kiểm soát nguyên liệu và chất lượng trong quá trình chế biến góp phần duy trì sự ổn định của sản phẩm cao su.
Đáng chú ý, vấn đề dữ liệu vùng trồng vẫn là một thách thức. Theo đó, dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam còn phân tán và thiếu đồng bộ. Với ngành cao su, việc thu thập thông tin về vùng nguyên liệu, tọa độ và hồ sơ chuỗi cung ứng vì vậy trở thành một phần quan trọng trong quá trình đáp ứng yêu cầu truy xuất.
Về thị trường, Hiệp hội Cao su Việt Nam cuối năm 2025 dự kiến tổng giá trị xuất khẩu của ngành cao su đạt khoảng 11,6 tỷ USD, gồm cao su thiên nhiên hơn 3,2 tỷ USD, sản phẩm cao su khoảng 5,3 tỷ USD và gỗ cao su hơn 3,1 tỷ USD. Đây là số liệu dự kiến tại thời điểm cuối năm 2025, không nên sử dụng như số liệu thực hiện.
Nhìn từ toàn bộ chuỗi, khó có thể xác định một công đoạn duy nhất quyết định năng suất ngành cao su. Vườn cây tạo ra nguyên liệu, thu mua giúp bổ sung nguồn mủ cho chế biến, nhà máy biến nguyên liệu thành sản phẩm, còn kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc ngày càng gắn với khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Vì vậy, bài toán năng suất của ngành cao su không chỉ là khai thác được nhiều mủ hơn mà còn là sử dụng tốt hơn nguồn đất, lao động, nguyên liệu và năng lực chế biến để tạo ra sản phẩm ổn định. Khi từng công đoạn được tổ chức chặt chẽ, từ vườn cây đến nhà máy, doanh nghiệp có thêm cơ sở để kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm khi tham gia thị trường xuất khẩu.
Hùng Anh












