Nghệ An chuẩn hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc, tăng kiểm soát chất lượng hàng hóa
(VietQ.vn) - Nghệ An triển khai Nghị định về định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, hướng tới chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch thông tin và quản lý hiệu quả hơn.
Vinhomes tiên phong kiến tạo những trung tâm tăng trưởng mới của ASEAN
Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh tinh thần học tập suốt đời trong kỷ nguyên AI
Kinh tế số tăng trưởng mạnh, lan tỏa vào nhiều lĩnh vực của đời sống
Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa đang chuyển từ giải pháp hỗ trợ quảng bá, nhận diện sản phẩm sang yêu cầu quan trọng trong quản lý chất lượng và kiểm soát thị trường. Khi hàng giả, hàng không rõ xuất xứ và tình trạng gian lận thương mại vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, việc xây dựng hệ thống dữ liệu có khả năng xác thực, đối chiếu và kết nối giữa các cơ quan quản lý trở thành yêu cầu cần thiết.
Tại Nghệ An, UBND tỉnh này vừa ban hành Văn bản số 14408/UBND-NC ngày 30/10/2026, yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND xã, phường và đơn vị liên quan triển khai Nghị định số 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026 của Chính phủ về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Văn bản xác định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc rà soát, chuẩn hóa, cập nhật và chia sẻ dữ liệu, đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến nguồn gốc hàng hóa.
Phân công trách nhiệm, chuẩn hóa dữ liệu truy xuất
Theo phân công của UBND tỉnh, Công an tỉnh được giao chủ trì, phối hợp với các sở, ngành tham mưu chỉ đạo triển khai Nghị định 372/2026/NĐ-CP trên địa bàn. Cơ quan này có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp kết quả và tham mưu giải quyết những khó khăn phát sinh.
.png)
Xác thực và truy xuất nguồn gốc được vận hành đồng bộ sẽ góp phần minh bạch hàng hóa bảo vệ người tiêu dùng. Ảnh minh họa
Đáng chú ý, nhiệm vụ của lực lượng công an không chỉ dừng ở việc khai thác nền tảng và cơ sở dữ liệu quốc gia mà còn liên quan trực tiếp đến bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Việc phát hiện, đấu tranh với hành vi giả mạo, làm sai lệch hoặc can thiệp trái phép dữ liệu, gian lận thương mại, sản xuất và buôn bán hàng giả được xác định là một trong những nội dung cần tập trung. Đây là yếu tố quan trọng bởi thông tin truy xuất chỉ có giá trị khi dữ liệu được tạo lập, xác thực và bảo vệ đúng quy định.
Trong khi đó, Sở Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì hướng dẫn các nhiệm vụ liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Một nhiệm vụ đáng chú ý là rà soát hiện trạng các hệ thống truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu, nền tảng số và tình hình sử dụng mã số, mã vạch trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở rà soát, Sở cần đánh giá khả năng kết nối, tích hợp và nâng cấp hạ tầng hiện có, bảo đảm dữ liệu được liên thông, đồng bộ, tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi địa phương xây dựng một hệ thống riêng, gây trùng lặp và lãng phí nguồn lực. Đây cũng là bước cần thiết để hình thành phương thức quản lý thống nhất, giúp thông tin sản phẩm có thể được khai thác giữa các cơ quan theo đúng thẩm quyền.
Đối với các lĩnh vực chuyên ngành, Sở Công Thương có trách nhiệm triển khai quy định về định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, đồng thời chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, xử lý hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và gian lận thương mại.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tập trung rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về sản xuất, chế biến, lưu thông nông, lâm, thủy sản; hướng dẫn doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh thực hiện yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Sở Y tế thực hiện nhiệm vụ tương ứng đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực quản lý, trong đó chú trọng dữ liệu về giấy phép, số đăng ký, công bố, chứng nhận và kết quả kiểm nghiệm.
Đáng chú ý, cơ quan về Thuế của tỉnh được giao phối hợp trao đổi, đối chiếu và chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý thuế, hóa đơn, chứng từ và sản phẩm, hàng hóa; nghiên cứu các nội dung liên quan đến việc thể hiện, liên kết mã định danh sản phẩm trên hóa đơn điện tử theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Sự phối hợp này giúp mở rộng khả năng đối chiếu thông tin giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa.
Từ mã QR đến định danh và xác thực sản phẩm trên môi trường số
Nghị định 372/2026/NĐ-CP gồm 8 chương, 38 điều, quy định về Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Điểm đáng chú ý là hoạt động truy xuất không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin qua mã QR mà được đặt trong một hệ thống định danh, xác thực và lưu vết dữ liệu trên môi trường số. Nền tảng quốc gia do Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành, sử dụng công nghệ chuỗi khối, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số khác để phục vụ việc định danh, đối chiếu, xác thực và chia sẻ dữ liệu.
Theo quy định, sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phải thực hiện định danh, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc theo danh mục, lộ trình do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định. Việc thực hiện có thể theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa tùy đặc thù và mức độ rủi ro. Đối với nhóm hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp, hoạt động này được khuyến khích thực hiện tự nguyện.
Quy định cũng đặt ra yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống truy xuất hiện có với nền tảng quốc gia, thay vì buộc các địa phương phải xây dựng lại toàn bộ hạ tầng. Đối với dữ liệu truy xuất đã được tạo lập, thu thập và khai báo hợp lệ trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, không phải thực hiện thu thập, khai báo lại mà được kết nối, đồng bộ để phục vụ tạo lập mã định danh UID.
Nghị định 372/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Như vậy, việc Nghệ An chủ động phân công nhiệm vụ từ cuối tháng 10/2026 là bước chuẩn bị nhằm rà soát hệ thống, xác định nhu cầu kết nối và bố trí nguồn lực trước khi các quy định chính thức được áp dụng.
Trước khi triển khai Nghị định mới, Nghệ An đã có những bước tiến trong ứng dụng mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc đối với nông sản. Hiện nay toàn tỉnh hiện có 684 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP từ 3 sao trở lên, trong đó 100% sản phẩm đã sử dụng phần mềm mã vạch, mã QR để truy xuất nguồn gốc.
Riêng năm 2025, Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh đã cấp 42 mã QR cho 27 cơ sở. Lũy kế đến thời điểm tháng 2/2026, đơn vị đã hỗ trợ 239 mã cho 185 cơ sở sản xuất nông, lâm, thủy sản. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng triển khai chính sách hỗ trợ miễn phí mã QR cho các cơ sở nhằm khuyến khích người sản xuất tiếp cận công nghệ.
Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những hạn chế. Theo ông Nguyễn Văn Hà, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh, việc truy xuất nguồn gốc mới đáp ứng một phần nhu cầu so với số lượng cơ sở và sản phẩm nông nghiệp thực tế. Nhiều vùng trồng còn lưu trữ dữ liệu nội bộ hoặc sử dụng phần mềm của bên thứ ba, khiến dữ liệu giữa các ngành chưa được liên thông đồng bộ.
Thực trạng này cho thấy, mở rộng số lượng mã QR chưa phải đích đến cuối cùng. Điều quan trọng là dữ liệu được cập nhật đầy đủ, phản ánh đúng các công đoạn sản xuất, chế biến và phân phối, đồng thời có khả năng kiểm chứng khi cơ quan quản lý hoặc người tiêu dùng cần tra cứu.
Trong bối cảnh Nghị định 372/2026/NĐ-CP chuẩn bị có hiệu lực, yêu cầu đặt ra với Nghệ An không chỉ là hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật mà còn nâng cao chất lượng dữ liệu từ chính các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Việc phân định rõ trách nhiệm cập nhật, xác thực và chia sẻ thông tin sẽ góp phần hạn chế tình trạng dữ liệu thiếu nhất quán, tạo thuận lợi cho hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Khi hệ thống định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được vận hành đồng bộ, thông tin sản phẩm sẽ có thêm cơ sở kiểm chứng, hỗ trợ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa trên thị trường.
An Dương












