Kinh tế số tăng trưởng mạnh, lan tỏa vào nhiều lĩnh vực của đời sống

author 15:38 12/10/2026

(VietQ.vn) - Năm 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 14,02% GDP, mức cao nhất trong giai đoạn 2020–2025. Giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành tăng khoảng 14,56%, bằng khoảng 1,8 lần tốc độ tăng GDP theo cùng cách tính. Phía sau con số vĩ mô ấy là những thay đổi rất cụ thể: thời gian giao nhận container tại một cảng lớn được rút ngắn đáng kể, một xưởng nhựa giảm tỷ lệ lỗi từ 12% xuống 0,5%, một bà bán hàng ở chợ quê nghe chiếc loa báo "tiền về".

Sự kiện: CHUYỂN ĐỔI SỐ

Một con số nói lên vị trí mới

Trong nhiều năm, kinh tế số thường được nhắc đến như một "xu hướng", một "cơ hội". Số liệu năm 2025 cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của kinh tế số trong tăng trưởng. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tăng 0,85 điểm phần trăm so với năm 2024. Quy mô giá trị tăng thêm tính theo giá hiện hành tăng khoảng 14,56%, cao hơn khoảng 1,8 lần mức tăng quy mô GDP theo giá hiện hành trong cùng kỳ.

Nói một cách giản dị, tỷ trọng kinh tế số trong GDP đang tăng; tuy nhiên, tỷ trọng này không đồng nghĩa với tỷ lệ đóng góp trực tiếp vào mức tăng GDP hằng năm. Khu vực này không chỉ tự lớn mà còn kéo các ngành khác cùng chạy nhanh hơn, từ ngân hàng, bán lẻ, logistics đến nông nghiệp.

Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là kinh tế số đạt 14,5% GDP, tức cần tăng thêm 0,48 điểm phần trăm. Để đánh giá khả năng hoàn thành, cần tiếp tục đối chiếu số liệu kinh tế số năm 2026 theo cùng phương pháp thống kê. Xa hơn, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP vào năm 2030. Từ 14% lên 30% trong năm năm là một chặng đường đòi hỏi kinh tế số phải tăng tốc hơn nữa, và phải lan sâu vào từng doanh nghiệp, từng hộ kinh doanh.

Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP, vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ số

Công nghiệp công nghệ số tăng trưởng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026

Trọng tâm của kinh tế số là công nghiệp công nghệ số. Đến hết tháng 9/2026, cả nước có khoảng 82.723 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động. Về lao động, số liệu sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy khu vực này có hơn 2,2 triệu người, tăng khoảng 11,3% so với năm 2025.

Đáng chú ý hơn là tốc độ tạo ra giá trị. 9 tháng năm 2026, doanh thu công nghiệp công nghệ số ước đạt khoảng 5.387.142 tỷ đồng, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận đạt khoảng 384.141 tỷ đồng, tăng 35,3%; nộp ngân sách nhà nước khoảng 69.730 tỷ đồng, tăng 34%; kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử khoảng 175,62 tỷ USD, tăng 34,7%. Riêng tháng 9/2026, doanh thu ước đạt 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ. Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách và xuất khẩu cùng tăng trên 30% là một nhịp tăng rất cao; cả nước đã có 11 địa phương có doanh thu công nghệ số trên 1 tỷ USD mỗi năm.

Hơn 2,2 triệu lao động cũng là một con số đáng suy ngẫm. Đó là lực lượng lao động lớn, trải rộng từ kỹ sư phần mềm, kỹ thuật viên điện tử đến nhân viên vận hành nền tảng; không thể mặc nhiên coi mọi vị trí đều có năng suất và thu nhập cao hơn mặt bằng chung. Mức tăng lao động cho thấy nhu cầu nhân lực công nghệ số đang mở rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu về chất lượng đào tạo và kỹ năng. Với những người trẻ vừa ra trường, đó là cơ hội làm việc cho thị trường toàn cầu ngay tại Việt Nam.

Dòng tiền đã đi theo đường số

Nếu muốn thấy kinh tế số rõ nhất, hãy nhìn vào cách người Việt trả tiền. Đến hết năm 2025, hơn 88,9% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng; số tài khoản cá nhân đã lên tới 256,7 triệu. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp 28 lần GDP.

6 tháng đầu năm 2026, so với cùng kỳ năm trước, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 34,28% về số lượng và 12,24% về giá trị; riêng qua kênh Internet tăng 49,82% về số lượng. Nhiều ngân hàng có trên 95% giao dịch diễn ra trên kênh số. Giá trị giao dịch bình quân mỗi ngày lên tới khoảng 1,05 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 40 tỷ USD. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử xử lý trung bình 39 triệu giao dịch mỗi ngày.

Việt Nam cũng đã kết nối thanh toán bằng mã QR với 6 quốc gia là Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore. Tại các điểm chấp nhận thanh toán có hỗ trợ kết nối xuyên biên giới, du khách có thêm lựa chọn quét mã QR; phạm vi sử dụng thực tế phụ thuộc ngân hàng, ứng dụng và mạng lưới chấp nhận thanh toán. Khi dòng tiền được số hóa, dòng khách và dòng hàng cũng lưu thông thuận lợi hơn. Dữ liệu giao dịch, nếu được khai thác hợp pháp và có sự đồng ý cần thiết, còn có thể hỗ trợ ngân hàng đánh giá dòng tiền và mở rộng tiếp cận tín dụng.

Cổng cảng không còn tắc

Kinh tế số tạo ra giá trị rõ nhất ở những nơi điểm nghẽn từng nằm ở giấy tờ. Cảng Tân Cảng – Cát Lái, cảng container lớn nhất cả nước về sản lượng, là ví dụ điển hình.

Trước đây, thủ tục giao nhận container làm thủ công, xe container phải chờ ở cổng, làm nhiều bước giấy tờ; mỗi dịp cao điểm lễ, Tết dễ ùn tắc cả bãi lẫn đường vào cảng. Cảng đã chuyển sang mô hình cảng điện tử: khách hàng làm lệnh giao hàng và thanh toán trực tuyến trước khi xe tới; ở cổng, hệ thống tự nhận dạng số container và biển số xe; điều độ bãi dựa trên dữ liệu thay vì bộ đàm và giấy.

Kết quả đo được: thời gian giao nhận một container rút từ 2–3 giờ xuống còn khoảng 30 phút; thời gian kiểm tra ở cổng còn 10–15 giây thay vì 5–10 phút. Lãnh đạo doanh nghiệp cho biết thủ tục số giúp rút ngắn 30% thời gian xử lý, nâng hiệu suất khai thác thiết bị thêm khoảng 25%; giao dịch không dùng tiền mặt qua cảng điện tử khoảng 15 tỷ đồng mỗi ngày.

Bài học ở đây rất đáng giá cho mọi ngành: một điểm nghẽn quan trọng không chỉ nằm ở thiết bị bốc xếp mà còn ở quy trình chứng từ và điều phối tại cổng. Số hóa chứng từ và tổ chức lại quy trình có thể mang lại hiệu quả đáng kể, bên cạnh đầu tư thiết bị phù hợp. Mô hình này đã được nhân rộng sang các cảng khác trong hệ thống, từ Cái Mép đến Lạch Huyện.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bắt đầu từ dữ liệu

Nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn nghĩ chuyển đổi số là chuyện của tập đoàn lớn, đòi hỏi robot và dây chuyền tự động đắt đỏ. Câu chuyện của Công ty TNHH Nhựa An Lập ở Bắc Ninh cho thấy điều ngược lại.

Trước khi thay đổi, tỷ lệ lỗi sản phẩm của công ty ở mức 12%; tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất chỉ 80%, tức cứ năm đơn kế hoạch có một đơn không về đích. Tham gia chương trình tư vấn nhà máy thông minh do Samsung Việt Nam phối hợp với tỉnh Bắc Ninh thực hiện, doanh nghiệp không mua robot, mà lắp hệ thống thu thập dữ liệu sản xuất ngay tại xưởng theo thời gian thực. Nhờ đó, nguyên nhân lỗi và chậm kế hoạch được truy ngược về từng công đoạn, thay vì chỉ biết kết quả cuối kỳ.

Theo số liệu doanh nghiệp và chương trình công bố, tỷ lệ lỗi giảm từ 12% xuống 0,5%; tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tăng từ 80% lên 92%. Chương trình đã tư vấn cho 16 doanh nghiệp tại Bắc Ninh và 82 doanh nghiệp trên cả nước.

Thông điệp rút ra là doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhất thiết phải đầu tư robot ngay từ đầu; việc đo và phân tích lỗi theo từng công đoạn có thể tạo ra cải thiện rõ rệt. Chuyển đổi số bắt đầu từ dữ liệu, không bắt đầu từ thiết bị.

Nông nghiệp có dữ liệu sẽ giữ được thị trường

Kinh tế số không chỉ ở thành phố. Ở Đắk Lắk, sầu riêng là ngành hàng có quy mô lớn với hơn 41.000 ha và sản lượng dự kiến gần 500.000 tấn niên vụ 2026. Nhưng thị trường xuất khẩu đòi hỏi mã số vùng trồng minh bạch, truy xuất được nguồn gốc. Gian lận mã số vùng trồng từng là nguy cơ khiến cả ngành hàng có thể mất thị trường.

Tỉnh đã tổ chức chiến dịch 30 ngày đêm số hóa dữ liệu vùng trồng: 8 tổ công tác chuyên trách xuống tận vườn thu thập, chuẩn hóa dữ liệu, tích hợp vào bản đồ số nông nghiệp của tỉnh và kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc. Kết quả, hơn 7.000 ha của hơn 3.000 hộ nông dân đã có dữ liệu sản xuất số. Con số ấy mới là phần đầu của hơn 41.000 ha, nhưng là phần đầu có thật, có tên hộ, có tọa độ vườn.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú dùng cảm biến theo dõi môi trường ao 24/24 giờ, thay cho việc cho ăn, xử lý nước theo kinh nghiệm. Doanh nghiệp cho biết một số chỉ tiêu vận hành, chi phí và lợi nhuận được cải thiện; các tỷ lệ cụ thể do doanh nghiệp cung cấp cần được đối chiếu với báo cáo kỹ thuật và phương pháp tính. Những con số này cần thêm kiểm chứng độc lập, nhưng hướng đi đã rõ: trong nông nghiệp, đo liên tục thay cho phỏng đoán là thay đổi rẻ nhưng đổi được cả cấu trúc chi phí.

Hộ kinh doanh bước vào kinh tế số

Một trong những chuyển biến lớn nhất của năm 2026 diễn ra ở tầng nhỏ nhất của nền kinh tế: hộ kinh doanh. Từ ngày 01/01/2026, thuế khoán được bỏ, hộ kinh doanh chuyển sang tự kê khai. Theo số liệu chốt ngày 02/5/2026, có 2.484.144/3.074.068 hộ kinh doanh đang hoạt động sử dụng eTax Mobile (khoảng 81%); tỷ lệ kê khai thuế điện tử được báo cáo là 98,6%. Đây là hai chỉ tiêu khác nhau, không đồng nghĩa toàn bộ người dùng ứng dụng đã tự thực hiện mọi khâu kê khai.

Ở chợ quê, thay đổi còn giản dị hơn. Tại xã Long Hiệp, tỉnh Vĩnh Long, nơi hơn 80% dân số là đồng bào Khmer, mô hình "Chợ 4.0" đã lắp 93 bộ bảng mã QR kèm loa thông báo tiền về cho tiểu thương. Chiếc loa nhỏ ấy giải đúng nỗi lo lớn nhất của người bán: tiền đã vào tài khoản hay chưa. Đến tháng 9/2026, 35 xã, phường trong tỉnh đã có kế hoạch triển khai "Chợ 4.0" tại 49 chợ.

Khi hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ cùng bước lên nền tảng số, kinh tế số không còn là câu chuyện của các tập đoàn công nghệ. Nó trở thành cách làm ăn hằng ngày của người dân.

Chi phí thủ tục giảm, nguồn lực được giải phóng

Kinh tế số còn tạo ra tăng trưởng theo một cách ít được để ý: giảm chi phí cho doanh nghiệp khi làm việc với các cơ quan nhà nước. Qua 11 nghị quyết chuyên đề ban hành trong tháng 4/2026 và tháng 5/2026, số thủ tục hành chính thực hiện tại cấp bộ giảm 743 thủ tục (gồm 362 thủ tục được phân quyền, phân cấp và 381 thủ tục được bãi bỏ). Theo số liệu tổng hợp, thời gian thực hiện thủ tục giảm 53%, chi phí tuân thủ giảm 54,6%; riêng 11 nghị quyết dự kiến giúp tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm.

Riêng Bộ Tài chính, nơi quản lý những thủ tục doanh nghiệp làm nhiều nhất như thuế, hải quan, kho bạc, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính đã giảm từ 75.430 tỷ đồng xuống 39.147 tỷ đồng mỗi năm, tức giảm 51,9%; thời gian thực hiện giảm từ 12.288 ngày xuống 6.577 ngày; 239 thủ tục được bãi bỏ. Điều làm nên khác biệt là Bộ đã đo được chi phí và thời gian của từng thủ tục, nên cắt giảm bằng số liệu chứ không bằng cảm nhận.

Nếu các phương án cắt giảm được thực thi đầy đủ, phần chi phí dự kiến tiết kiệm có thể giúp người dân, doanh nghiệp dành thêm nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh. Hiệu quả thực tế cần được kiểm chứng qua mức chi phí và thời gian phát sinh sau cải cách.

Chính sách mở đường

Để kinh tế số lan rộng, khung chính sách đã được hoàn thiện nhanh trong hai năm qua. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026–2030 đã được phê duyệt, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu và trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Đề án chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030 đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số vào năm 2030; đã có 24 địa phương ban hành kế hoạch triển khai, một số nơi ban hành nghị quyết quy định mức hỗ trợ cụ thể.

Luật Chuyển đổi số có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 cùng các nghị định hướng dẫn đã quy định cụ thể đối tượng, nội dung, hình thức hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và hộ kinh doanh, với nguyên tắc công khai, minh bạch, không hỗ trợ trùng lặp.

Một nhận định thẳng thắn cũng được đặt ra: hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thời gian qua vẫn chủ yếu là đào tạo, truyền thông và giới thiệu giải pháp. Giai đoạn tới, trọng tâm cần chuyển sang hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn, thử nghiệm và ứng dụng các giải pháp số để giải quyết trực tiếp bài toán sản xuất, kinh doanh, như cách Nhựa An Lập hay Tân Cảng – Cát Lái đã làm.

Từ 14% đến 30%: điều gì quyết định?

Nhìn lại các câu chuyện trên, có thể thấy ba điều quyết định tốc độ của kinh tế số trong những năm tới.

Thứ nhất, tìm đúng điểm nghẽn trước khi tìm công nghệ. Cảng Cát Lái không mua thêm cần cẩu mà số hóa tờ giấy ở cổng. Nhựa An Lập không mua robot mà đo lỗi ở từng công đoạn. Doanh nghiệp tìm đúng chỗ tắc thì chi phí chuyển đổi số thấp hơn nhiều so với tưởng tượng.

Thứ hai, đo kết quả bằng chỉ số kinh doanh, không bằng số phần mềm đã triển khai. Thời gian giao nhận container, tỷ lệ lỗi sản phẩm, số héc-ta có dữ liệu vùng trồng: những con số ấy mới cho biết chuyển đổi số có tạo ra giá trị hay không.

Thứ ba, kéo tầng nhỏ nhất của nền kinh tế cùng đi. Ba triệu hộ kinh doanh, hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa, hàng triệu nông hộ là nơi kinh tế số còn nhiều dư địa nhất. Khi hạ tầng đã phủ khắp, thanh toán số đã quen tay, thuế đã lên điện thoại, điều còn thiếu là những mô hình cụ thể, rẻ, dễ làm để họ học theo.

Giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành tăng với tốc độ khoảng 1,8 lần tốc độ tăng GDP theo giá hiện hành là tín hiệu tích cực, nhưng chưa phải thước đo duy nhất về chất lượng tăng trưởng. Đó là tín hiệu cho thấy động cơ tăng trưởng mới đã nổ máy. Việc còn lại là tăng tốc, để mỗi doanh nghiệp, mỗi hộ kinh doanh, mỗi người dân đều có chỗ trên chuyến tàu ấy.

Bùi Linh

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang