Việt Nam định hình trung tâm tài chính quốc tế để thu hút vốn toàn cầu
(VietQ.vn) - Việt Nam phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế theo mô hình “Một trung tâm, hai điểm đến”, hướng tới kết nối dòng vốn toàn cầu với nhu cầu đầu tư trong nước.
Tại phiên thảo luận “Làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu cho Trung tâm Tài chính quốc tế?” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 diễn ra vào ngày 27/10, đại diện cơ quan quản lý và chuyên gia cho rằng việc mở rộng kênh huy động vốn cần đi cùng hoàn thiện thể chế, phát triển sản phẩm tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Hai điểm đến với định hướng bổ trợ
Ông Trương Minh Huy Vũ, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM cho biết khung pháp lý cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) tại TP.HCM đã hoàn tất và tiếp nhận 10 thành viên đầu tiên.
Trong tháng 11/2026, thành phố dự kiến ban hành quy trình, quy chế tiếp nhận các quỹ đầu tư và đơn vị quản lý quỹ theo ba cấp độ, tham chiếu mô hình tại Singapore, Dubai và Hồng Kông. Cách tiếp cận này nhằm thu hút đa dạng dòng vốn.
Theo ông Vũ, mục tiêu cốt lõi là dẫn vốn vào nền kinh tế thực, trước mắt phục vụ nhu cầu phát triển của TP.HCM, vùng Đông Nam Bộ, Đà Nẵng và khu vực miền Trung.

Ông Trương Minh Huy Vũ, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: HÙNG - TRIỀU)
Ở góc độ quản lý, bà Đào Thanh Hương, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), cho biết VIFC được tổ chức theo mô hình “Một trung tâm, hai điểm đến” tại TP.HCM và Đà Nẵng, với định hướng phát triển bổ trợ.
Dù đặt tại hai địa phương và có cơ quan điều hành trực tiếp riêng, VIFC hoạt động theo một bộ quy tắc, quy chế chung, hệ thống giám sát và cơ sở dữ liệu thống nhất. Hoạt động của trung tâm đặt dưới sự điều phối của Hội đồng Điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam do một Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách.
Theo bà Hương, nguyên tắc này được quy định tại Nghị định 323/2025/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập VIFC. Các tiêu chí, điều kiện và quy định tiếp cận được áp dụng thống nhất tại cả hai điểm đến.
TP.HCM được định hướng tập trung vào các sản phẩm tài chính chuyên sâu và truyền thống, gắn với những dự án quy mô lớn như phát hành trái phiếu, quản lý tài sản và huy động vốn cho các dự án trọng điểm. Trong khi đó, Đà Nẵng hướng tới phát triển tài chính đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và các sản phẩm tài chính mới.
Sự phân công này được kỳ vọng tạo hệ sinh thái bổ trợ, nâng sức hấp dẫn của VIFC đối với nhà đầu tư nước ngoài và các định chế tài chính quốc tế.
Bà Hương cho biết phát triển trung tâm tài chính là quá trình dài hạn, đòi hỏi sự đồng bộ về pháp lý, cơ chế vận hành và sản phẩm. Nghị quyết số 222/2025/QH15 được ban hành tháng 6/2025 đặt nền móng cho việc thành lập VIFC. Đến ngày 18/12/2025, Chính phủ ban hành 8 nghị định hướng dẫn thực hiện.

Ông Marc Knapper - Nguyên Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam (2022–2026); Chủ tịch Knapper Global Advisors; Cố vấn cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) phát biểu. (Ảnh: HÙNG - TRIỀU)
Trong giai đoạn 2026-2027, Hội đồng Điều hành và cơ quan điều hành tại hai địa phương đang lựa chọn các nhóm sản phẩm ưu tiên. Trọng tâm trước mắt là tài trợ vốn cho dự án lớn, hạ tầng trọng điểm; phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án; thu hút quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ và công ty quản lý tài sản.
Theo bà Hương, các sản phẩm cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường và nhà đầu tư. Việt Nam sẽ vừa triển khai, vừa hoàn thiện cơ chế trong thực tiễn, với nguyên tắc thận trọng nhưng không chậm trễ.
VIFC được định hướng áp dụng mô hình giám sát hai tầng, gồm giám sát trực tiếp tại địa phương và giám sát chuyên ngành của các cơ quan Trung ương như Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Theo bà Hương, cơ chế này nhằm bảo đảm hoạt động an toàn, minh bạch, phù hợp chuẩn mực quốc tế và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Cần thêm nguồn lực cho tăng trưởng
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia, cho biết Việt Nam cần gần 1.500 tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2021-2030. Trong đó, nguồn vốn Nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20-22%, còn 78% dự kiến đến từ khu vực tư nhân trong nước và quốc tế.
Từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần huy động khoảng 280-300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân 14% một năm. Riêng TP HCM cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương 22% tổng nhu cầu vốn cả nước. Theo ông, tỷ lệ này phù hợp với mức đóng góp 23,5% GDP cả nước của thành phố.
Chuyên gia dẫn kinh nghiệm từ 5 quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng hai chữ số, khoảng 10%. Tại các nước này, tổng vốn đầu tư cần đạt 35-40% GDP, tăng 13-15% mỗi năm; hệ số ICOR thông thường ở mức 3-4 lần.
Trong mô hình tăng trưởng của các quốc gia này, vốn là một trong ba yếu tố cùng với lao động và năng suất nhân tố tổng hợp, đóng góp khoảng 40-50% cho tăng trưởng kinh tế.
Với Việt Nam, từ thời kỳ đổi mới đến nay, vốn đóng góp khoảng 45-50% cho tăng trưởng. Trong giai đoạn mới, dù hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện, quy mô vốn đầu tư vẫn tương đương khoảng 40% GDP, đóng góp khoảng 40-42% cho tăng trưởng kinh tế.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia. (Ảnh: HÙNG - TRIỀU)
Trước nhu cầu vốn lớn, ông Lực cho rằng Việt Nam cần phát triển thị trường vốn và chú trọng thêm các nguồn lực tài chính, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Hiện tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 51% tổng lượng vốn tại Việt Nam. Huy động từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới chiếm khoảng 13-14%. Nếu cộng thêm trái phiếu chính phủ khoảng 10%, tổng tỷ trọng cũng chỉ khoảng 23%. Theo ông, mức này còn thấp và Việt Nam cần phát triển thị trường vốn.
Việt Nam có lợi thế về nguồn tiền tiết kiệm trong dân, hiện đạt khoảng 35% GDP, so với mức đầu tư 31% GDP. Phần tiền nhàn rỗi tương đương khoảng 4% GDP, song tỷ lệ này đang thu hẹp dần.
Để mở rộng nguồn lực, ông Lực đề cập tài chính xanh và quốc tế; thúc đẩy thặng dư thương mại; nâng hạng thị trường chứng khoán theo MSCI, FTSE và nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức Investment Grade trước năm 2030. Những nguồn lực khác gồm phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM và Đà Nẵng, thị trường tài sản số và tiền kỹ thuật số, thị trường tín chỉ carbon, cùng việc xử lý khoảng 1.500 dự án tồn đọng.
Theo chuyên gia, quy mô thị trường tài chính Việt Nam đã đạt 328% GDP, khiến dư địa tăng trưởng nhanh không còn nhiều như trước. Tín dụng/GDP hiện ở mức 144% và dự kiến lên 180% vào năm 2030. Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi khoảng 2 triệu tỷ đồng cũng khiến việc giảm lãi suất gặp khó khăn.
Ông Lực cũng cho rằng hệ thống thể chế và khung pháp lý sandbox cho các mô hình mới còn chậm. Hệ số ICOR của Việt Nam vẫn trên 6 lần trong giai đoạn vừa qua, trong khi mục tiêu cần giảm về 4,5 lần.
Trước những thách thức này, ông Lực khuyến nghị kiên định với Đề án 1413 về cải cách toàn diện thị trường tài chính đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Đề án 893 về phát triển hệ thống ngân hàng lành mạnh. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế minh bạch, xử lý các điểm nghẽn dự án, cơ cấu lại đầu tư công và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô để khơi thông nguồn lực phát triển.
Kim Thoa












