Biến chứng muộn sau tiêm chất làm đầy và khuyến cáo của bệnh viện
(VietQ.vn) -Tiêm chất làm đầy được sử dụng trong nhiều thủ thuật thẩm mỹ nhằm tạo hình, tăng thể tích hoặc cải thiện đường nét cơ thể. Tuy nhiên, việc đưa vật liệu vào mô vẫn có thể phát sinh phản ứng bất lợi, trong đó một số biến chứng không xuất hiện ngay sau thủ thuật mà có thể xảy ra muộn.
Việt Nam cải thiện thứ hạng đổi mới sáng tạo, đứng thứ 43 toàn cầu
Lễ hội Hàng Việt Nam chất lượng cao: Mua sắm, trải nghiệm và gặp người làm ra sản phẩm
Thu hồi lô thuốc tuyến giáp quá hàm lượng, nguy cơ gây tử vong
Biến chứng có thể xuất hiện sau nhiều năm
Theo Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong 2 tháng gần đây Khoa Phẫu thuật Tạo hình và Vi phẫu, Trung tâm Phẫu thuật Sọ mặt và Tạo hình đã liên tiếp tiếp nhận và điều trị 5 trường hợp áp xe vùng mông, vùng ngực có tiền sử tiêm chất làm đầy từ 5-10 năm trước. Đáng chú ý, các trường hợp đều từng thực hiện thủ thuật tại spa và không xác định rõ nguồn gốc sản phẩm đã sử dụng.
Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, 5 người bệnh nói trên đến khám trong tình trạng sưng đau, viêm và hình thành ổ áp xe tại vùng từng tiêm. Khoảng thời gian từ khi thực hiện thủ thuật đến khi xuất hiện biến chứng kéo dài 5-10 năm. Điều này khiến người bệnh có thể không nghĩ tình trạng viêm nhiễm hiện tại liên quan đến mũi tiêm thẩm mỹ đã thực hiện từ nhiều năm trước.
Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cảnh báo về tình trạng viêm, áp xe xuất hiện muộn sau tiêm chất làm đầy. Trong một bản tin chuyên môn của bệnh viện về áp xe vú sau tiêm chất làm đầy tăng vòng ngực, các bác sĩ cho biết có những trường hợp viêm tấy, áp xe tuyến vú xuất hiện sau 5 năm, 10 năm thậm chí 20 năm phải phẫu thuật nhiều lần gây tàn phá cho nhu mô tuyến vú, thậm chí cắt toàn bộ nhu mô tuyến vú.
Bệnh viện cũng lưu ý, sau phẫu thuật vẫn có thể còn chất làm đầy trong mô chưa gây viêm hoặc hoại tử, do đó nguy cơ viêm tấy, áp xe về sau vẫn có thể tồn tại. Trong các trường hợp mới tiếp nhận, người bệnh đều từng tiêm tại spa nhưng không có đầy đủ thông tin về loại chất đã sử dụng, nhà sản xuất hoặc nguồn gốc sản phẩm. Đây là yếu tố gây khó khăn cho bác sĩ trong việc xác định vật liệu đã được đưa vào cơ thể, đánh giá phạm vi tổn thương và lựa chọn hướng xử trí phù hợp.

Người từng tiêm chất làm đầy không nên cho rằng thủ thuật đã thực hiện nhiều năm trước thì hoàn toàn không còn nguy cơ biến chứng. Ảnh: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phản ứng viêm, nhiễm trùng và u hạt là những biến chứng được ghi nhận
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy biến chứng liên quan đến chất làm đầy có thể được chia thành nhóm xuất hiện sớm và nhóm xuất hiện muộn. Một số tổng quan y khoa ghi nhận biến chứng muộn có thể bao gồm nhiễm trùng, áp xe, nốt viêm, u hạt do phản ứng với dị vật và tình trạng liên quan đến màng sinh học (biofilm).
Một tổng quan về các biến chứng của chất làm đầy cho thấy nhiễm trùng có thể biểu hiện dưới dạng viêm tại chỗ, viêm mô tế bào hoặc áp xe. Trong một số trường hợp, vi khuẩn có thể tồn tại quanh vật liệu làm đầy và hình thành màng sinh học, khiến tình trạng viêm kéo dài và việc điều trị trở nên khó khăn hơn.
Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống của Mỹ cũng ghi nhận các nốt hoặc u hạt có thể xuất hiện nhiều tháng đến nhiều năm sau tiêm. Trong 66 trường hợp được tổng hợp, thời điểm xuất hiện nốt trung bình là khoảng 35,2 tháng; phần lớn các trường hợp được xét nghiệm mô học cho thấy u hạt do dị vật. Nghiên cứu cũng lưu ý đây là biến chứng không thường gặp và kết quả không thể được dùng để suy rộng cho tất cả người tiêm chất làm đầy.
Theo một tổng quan khác về các yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng của chất làm đầy, những biểu hiện như đỏ, nóng, đau, sưng, nốt bất thường hoặc dấu hiệu áp xe tại vị trí tiêm có thể gợi ý tình trạng nhiễm trùng. Các biến chứng xuất hiện muộn có thể liên quan đến phản ứng viêm, phản ứng với vật liệu hoặc nhiễm trùng kéo dài.
Không chỉ biến chứng nhiễm trùng, chất làm đầy còn có thể gây những phản ứng nghiêm trọng khác. Tổng quan y khoa gần đây cho thấy các biến chứng của chất làm đầy có thể bao gồm sưng, đau, bầm tím, nhiễm trùng mô mềm, nốt, u hạt, di chuyển vật liệu và biến chứng mạch máu. Trong đó, biến chứng mạch máu được xem là một nhóm nguy cơ nghiêm trọng do có thể dẫn tới thiếu máu mô, hoại tử và trong một số trường hợp ảnh hưởng đến thị lực.
Khó khăn trong điều trị khi không xác định được loại chất đã tiêm
Việc xác định loại vật liệu được sử dụng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đánh giá biến chứng. Khi người bệnh không biết đã tiêm sản phẩm nào, thời điểm nào hoặc tại cơ sở nào, bác sĩ có thể gặp khó khăn hơn trong việc xác định nguyên nhân và lựa chọn phương án xử trí.
Theo Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể phải phối hợp thăm khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm vi sinh, mô bệnh học và các phương pháp điều trị khác nhau. Khi ổ áp xe đã hình thành, người bệnh có thể cần dẫn lưu, lấy bệnh phẩm xét nghiệm và sử dụng thuốc theo chỉ định. Một số trường hợp cần phẫu thuật loại bỏ tổ chức viêm, hoại tử hoặc vật liệu liên quan.
Các tài liệu chuyên môn quốc tế cũng nhấn mạnh việc xác định bản chất của tổn thương là bước quan trọng trong xử trí biến chứng muộn. Với trường hợp có biểu hiện áp xe, các khuyến nghị chuyên môn đề cập đến việc dẫn lưu và lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, từ đó hỗ trợ lựa chọn điều trị phù hợp.
Từ thực tế điều trị, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khuyến cáo người từng tiêm chất làm đầy không nên cho rằng thủ thuật đã thực hiện nhiều năm trước thì hoàn toàn không còn nguy cơ biến chứng. Khi vị trí từng tiêm xuất hiện sưng, nóng, đỏ, đau, khối bất thường, chảy dịch hoặc mủ, người bệnh cần đi khám tại cơ sở y tế chuyên khoa.
Người từng thực hiện thủ thuật cũng cần chủ động thông báo với bác sĩ về tiền sử tiêm chất làm đầy, kể cả khi đã thực hiện từ nhiều năm trước. Thời điểm tiêm, vị trí tiêm, tên sản phẩm, nhà sản xuất và cơ sở thực hiện là những thông tin có thể hỗ trợ bác sĩ trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đồng thời khuyến cáo chỉ thực hiện thủ thuật tại cơ sở y tế được phép, do người có chuyên môn thực hiện; cần tìm hiểu rõ sản phẩm trước khi sử dụng và lưu giữ thông tin về sản phẩm, thời điểm, vị trí tiêm để cung cấp cho bác sĩ khi cần. Khi có dấu hiệu bất thường, người bệnh không nên tự ý chích, nặn, dẫn lưu tổn thương hoặc sử dụng thuốc theo kinh nghiệm.
An Dương












