Truy xuất nguồn gốc trở thành dữ liệu quan trọng trong quản lý thị trường
(VietQ.vn) - Hàng hóa không rõ nguồn gốc dịch chuyển mạnh lên sàn thương mại điện tử, đặt ra yêu cầu quản lý bằng dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm của nền tảng đối với thị trường.
Hưởng ứng Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu Hiến pháp và Pháp luật
Kết nối hạ tầng, kiến tạo không gian phát triển cho logistics vùng Đồng bằng sông Hồng
Con người - yếu tố quan trọng quyết định năng suất dài hạn
Người bán liên tục thay đổi, dữ liệu lại phân tán
Chỉ một cú nhấp chuột, một phiên livestream và vài giờ sau, món hàng được quảng cáo là “chính hãng”, “hàng xách tay”, “giá tận gốc” có thể được giao tới tận nhà. Sự thuận tiện của thương mại điện tử đang mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tạo thêm không gian để hàng giả, hàng nhái và hàng hóa không rõ nguồn gốc len lỏi vào thị trường.
Đáng chú ý, phương thức kinh doanh của các đối tượng vi phạm đang thay đổi nhanh. Không còn phụ thuộc vào một cửa hàng hay website cố định, người bán có thể kết hợp mạng xã hội, livestream, sàn thương mại điện tử, ứng dụng nhắn tin, đơn vị vận chuyển và phương thức thanh toán khác nhau. Khi một tài khoản bị phát hiện, tài khoản khác có thể nhanh chóng xuất hiện.
Trao đổi với về vấn đề này, bà Lê Hoàng Oanh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) cho biết, nhiều đối tượng không còn vận hành theo mô hình website cố định mà sử dụng đồng thời mạng xã hội, livestream, ứng dụng nhắn tin và các gian hàng tồn tại trong thời gian ngắn. Sau khi bán hàng, họ có thể nhanh chóng xóa dấu vết hoặc chuyển sang tài khoản khác.

Hàng hóa không rõ nguồn gốc bán trên mạng gây ra không ít thiệt hại cho người tiêu dùng. Ảnh minh họa
Khó khăn còn nằm ở chỗ dữ liệu của một giao dịch không nằm tại một nơi. Thông tin có thể phân tán giữa sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán và mạng xã hội. Có trường hợp quảng cáo ở một nền tảng, chốt đơn ở nền tảng khác nhưng tiền lại được chuyển vào tài khoản cá nhân, khiến việc xác định người thực sự đứng sau hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp.
Theo bà Nguyễn Kiều Oanh, Phó Giám đốc Sở Công Thương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo 389 thành phố Hà Nội, hoạt động kiểm tra, kiểm soát trên môi trường thương mại điện tử gặp khó khăn do các tài khoản bán hàng có thể thay đổi tên, thay đổi đường dẫn; các phiên bán hàng trực tuyến chạy quảng cáo trên mạng xã hội có thể bị xóa, không để lại dấu vết.
Do đó, để ngăn chặn hiệu quả hàng giả, hàng nhái và hàng không rõ nguồn gốc trên môi trường số cần đồng thời hoàn thiện khung pháp lý, tăng trách nhiệm của nền tảng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý với nền tảng thương mại điện tử, đơn vị thanh toán, vận chuyển và các chủ thể liên quan cũng cần tiếp tục được tăng cường.
Truy xuất nguồn gốc phải là dữ liệu để quản lý thị trường
Một hướng được các cơ quan quản lý và chuyên gia đặt ra là chuyển truy xuất nguồn gốc từ công cụ cung cấp thông tin cho doanh nghiệp thành một phần của hạ tầng dữ liệu phục vụ quản lý thị trường.
Theo ông Bùi Bá Chính, Giám đốc Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia thuộc Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc có thể trở thành nền tảng dữ liệu quan trọng giúp định danh sản phẩm và kết nối thông tin xuyên suốt chuỗi cung ứng. Ông cho rằng cần kết nối dữ liệu của các bộ, ngành và địa phương trên toàn tuyến; mã vạch có thể được sử dụng để định danh sản phẩm, minh bạch thông tin và hỗ trợ giám sát.
Quan điểm này cũng được đặt trong yêu cầu xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu. Nghị định 37/2026/NĐ-CP khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sử dụng mã số, mã vạch, mã QR, DataMatrix, RFID, NFC và kết hợp AI, dữ liệu lớn, IoT để thu thập, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Đáng chú ý, dữ liệu truy xuất không chỉ dừng ở một mã QR trên bao bì mà bao gồm các thông tin như tên sản phẩm, hình ảnh, đơn vị sản xuất, kinh doanh, địa chỉ, xuất xứ, thương hiệu, số lô hoặc số sê-ri và hạn sử dụng nếu có. Đây là cơ sở để việc truy xuất gắn với thông tin thực tế của hàng hóa thay vì chỉ tạo ra một mã để người tiêu dùng quét.
Ông Bùi Bá Chính chỉ ra rằng, nếu thông tin sản xuất được ghi chép thủ công, nguy cơ sai sót hoặc làm giả hồ sơ vẫn tồn tại. Ngược lại, việc số hóa nhật ký sản xuất và ghi nhận dữ liệu theo thời gian thực giúp doanh nghiệp quản lý toàn trình chuỗi cung ứng minh bạch hơn, đồng thời tạo cơ sở để xác định nguồn gốc sản phẩm khi có vấn đề phát sinh.
Từ góc độ chống hàng giả, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, cần truy xuất để xác thực nguồn gốc hàng hóa và truy xuất để phục vụ quản lý. Theo ông, việc ứng dụng công nghệ có thể hỗ trợ cả người tiêu dùng trong xác định hàng hóa và cơ quan quản lý trong thực thi nhiệm vụ. Như vậy, bài toán quản lý hàng không rõ nguồn gốc trên môi trường mạng không chỉ nằm ở việc phát hiện một sản phẩm vi phạm mà còn ở khả năng xác định sản phẩm đó từ đâu đến, ai đưa lên thị trường, giao dịch qua đâu và dữ liệu liên quan đang nằm ở đâu.
Theo cơ quan quản lý, trách nhiệm người bán phải chứng minh nguồn gốc hàng hóa; nền tảng cần xác thực, lưu trữ và cung cấp thông tin theo quy định; các đơn vị vận chuyển, thanh toán phối hợp khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu; doanh nghiệp chủ động bảo vệ thương hiệu và cung cấp thông tin về hàng giả.
Trong khi đó, cơ quan chức năng cần tăng khả năng giám sát dựa trên dữ liệu, kết nối thông tin giữa các lực lượng và ứng dụng công nghệ để phát hiện bất thường sớm hơn. Người tiêu dùng cũng cần thận trọng với những sản phẩm có thông tin nguồn gốc không rõ ràng và chủ động phản ánh khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Nhấn mạnh thêm về giải pháp chống hàng giả, PGS.TS Nguyễn Minh Vỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Chống hàng giả Việt Nam (ACT), cho rằng sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, mạng xã hội và công nghệ số đang làm thay đổi cách hàng hóa được sản xuất, phân phối và tiếp cận người tiêu dùng. Cùng với cơ hội mở rộng thị trường, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với những phương thức mới để hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện trên thị trường.
Trong bối cảnh đó, công tác chống hàng giả không chỉ dừng ở kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm sau khi xảy ra. Yêu cầu đặt ra là tăng cường phòng ngừa từ sớm, nhận diện hàng hóa, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ để bảo vệ sản phẩm ngay từ khi đưa ra thị trường.
Ở góc độ nhận diện hàng hóa, ông Lê Xuân Trường, Chánh Văn phòng, Ủy viên Thường trực Ban Chấp hành Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, trình bày giải pháp chống hàng giả, hàng kém chất lượng bằng mã số, mã vạch. Nội dung này gắn với yêu cầu nhận diện và quản lý hàng hóa trong quá trình sản xuất, lưu thông và kinh doanh.
Ông Phạm Minh Tuân đại diện Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia) cho biết, thời gian tới, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia sẽ tăng cường kiểm tra, phối hợp liên ngành, đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp chủ động nhận diện, phòng ngừa và bảo vệ sản phẩm, thương hiệu trên môi trường số.
Thực tế quản lý cho thấy thương mại điện tử không thể được kiểm soát hiệu quả nếu chỉ tiếp cận theo từng gian hàng hay từng đơn hàng. Khi hoạt động bán hàng ngày càng phân tán giữa nhiều nền tảng, việc xây dựng hệ thống dữ liệu có khả năng định danh, xác thực và truy xuất xuyên suốt chuỗi cung ứng sẽ trở thành một trong những cơ sở quan trọng để cơ quan quản lý kiểm soát thị trường và bảo vệ người tiêu dùng.
An Dương












