Quy định chống phá rừng của EU có hiệu lực: Thách thức với ngành cao su

author 09:13 18/05/2024

(VietQ.vn) - Hiệp hội Cao su Việt Nam mong muốn Liên minh châu Âu sớm có lộ trình cụ thể đối với việc thực thi quy định chống phá rừng (EUDR) và ban hành tài liệu kỹ thuật hướng dẫn cho ngành cao su để có kế hoạch thích ứng kịp thời.

Sự kiện: DẤU CHÂN CARBON

Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn chuẩn bị khung kế hoạch hành động thích ứng với quy định chống phá rừng (EUDR), trong đó đề xuất các nhiệm vụ/giải pháp cụ thể và phân công các cơ quan chuyên môn của Bộ triển khai thực hiện. Đồng thời, đề nghị UBND các tỉnh, thành phố cùng đồng hành bổ sung kế hoạch hoạt động của địa phương thích ứng với EUDR. Trong đó, tập trung giám sát chặt chẽ vùng nguy cơ rủi ro cao (vùng trồng xen kẽ rừng) đối với các ngành hàng bị ảnh hưởng bởi EUDR; tăng cường tuần tra, giám sát cộng đồng để bảo vệ rừng.

Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017 của Văn phòng Chính phủ cũng nêu rõ: Kể từ ngày 01/11/2017 phải chấm dứt việc khai thác rừng tự nhiên theo lệnh đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ, vì vậy Việt Nam có lợi thế đáp ứng nội dung “Không chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp”. Ngành cao su Việt Nam đang tích cực thực hiện các giải pháp phát triển bền vững thông qua chứng chỉ rừng bền vững quốc gia (VFCO) và quốc tế (PEFC, FSC). Các bên trong chuỗi cung, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất đã tập trung đầu tư tài chính và nhân lực cho các hệ thống này trong một thời gian dài để có những mô hình sản xuất cao su bền vững.

Tuy nhiên, ngành cao su cũng đang đối mặt với thách thức không hề nhỏ từ quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EU). Theo đó, EU định nghĩa rộng hơn về suy thoái rừng bao gồm cả việc chuyển đổi rừng nguyên sinh hoặc rừng tái sinh tự nhiên thành rừng trồng hoặc thành đất có rừng khác. Rừng sản xuất (chủ yếu trồng cây công nghiệp như cao su, hạt điều, cà phê, hồ tiêu,...) vốn đang chiếm tới hơn 52% diện tích rừng của Việt Nam, có thể bị liệt vào khái niệm làm “suy thoái rừng”, có thể ảnh hưởng tới quyết định của EU trong việc phân loại mức độ rủi ro của Việt Nam.

Bên cạnh tiêu chí về không phá rừng, EUDR cũng bao gồm các tiêu chí khác, trong đó có tính hợp pháp về quyền sử dụng đất, đảm bảo đất có ranh giới rõ ràng và thông báo cho khách hàng về vị trí địa lý của lô đất và thời gian thu hoạch/sản xuất” là những hạn chế của ngành cao su với hơn 260.000 hộ tiểu điền cùng mạng lưới thu mua phức tạp hiện nay.

 Ảnh minh họa.

Nguồn cung cao su tự nhiên đầu vào của Việt Nam tương đối đa dạng. Bên cạnh hàng trăm công ty và hàng trăm ngàn hộ tiểu điền trồng cao su tại Việt Nam, nguồn cung còn bao gồm nguồn nhập khẩu, chủ yếu từ Campuchia và Lào. Ở công đoạn chế biến, các nguồn cung này có thể được phối trộn với nhau để sản xuất chủng loại phù hợp phục vụ xuất khẩu hoặc chế biến sâu trong nước.

Cao su tiểu điền phần lớn có quy mô nhỏ, khó có thể trực tiếp thực hiện chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo yêu cầu của thị trường. Một số mô hình liên kết qua nhiều khâu trung gian phức tạp, lỏng lẻo với các giao dịch không có hợp đồng nên tính pháp lý không cao.

Áp lực về chi phí đầu tư công nghệ để sản xuất đạt chuẩn vào châu Âu đã cao, giờ phải đầu tư thêm chi phí để đáp ứng quy định này sẽ tạo nên gánh nặng cho nhiều doanh nghiệp. EUDR nêu rõ sẽ phân loại quốc gia hoặc vùng sản xuất cung cấp sản phẩm cho EU theo các nhóm “rủi ro cao”, “rủi ro trung bình” hay “rủi ro thấp” dựa trên tiêu chí và bằng chứng mà EU thu thập được.

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, ngành cao su Việt Nam có chuỗi cung phức tạp do chưa có sự quản lý chặt chẽ đối với các bên liên quan, đặc biệt là hộ tiểu điền. Hiện nay, hơn 60% nguồn cung cao su thiên nhiên đến từ hơn 260 ngàn hộ tiểu điền khắp cả nước. Vì vậy, bên cạnh doanh nghiệp sản xuất, các hộ tiểu điền là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi các quy định về không gây mất rừng và bền vững của châu Âu được áp dụng do quá trình thẩm định yêu cầu nhiều hồ sơ, giấy tờ liên quan và tốn kém.

Do đó, Hiệp hội Cao su Việt Nam kiến nghị các Bộ, ngành cần tăng cường kiến nghị với EU về lộ trình cụ thể đối với việc thực thi EUDR, ban hành tài liệu kỹ thuật hướng dẫn cho các ngành hàng bị ảnh hưởng, trong đó có ngành cao su, để có kế hoạch thích ứng kịp thời. Tăng cường hợp tác khu vực (các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên) nhằm đối thoại với Ủy ban châu Âu (EC) thống nhất các định nghĩa chung và minh bạch về bền vững nhằm nâng cao sự thấu hiểu về quy trình đang được các nước và doanh nghiệp sản xuất áp dụng. Thúc đẩy các tổ chức bền vững (PEFC, FSC) vận động và đối thoại vối Ủy ban châu Âu về việc chấp nhận các chứng chỉ bền vững hiện có trong quy định EUDR.

Đồng thời, nghiên cứu giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao năng lực hộ tiểu điền cao su trong việc thích ứng với EUDR, đặc biệt là về dữ liệu định vị, truy xuất nguồn gốc. Tích hợp số liệu về cao su vào hệ thống thông tin/cơ sở dữ liệu quốc gia về rừng, hệ thống thông tin vùng sản xuất, hỗ trợ các bên vấn đề pháp lý trong sử dụng đất và áp dụng phương pháp truy xuất nguồn gốc. Chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn địa phương tích cực hỗ trợ và phối hợp thực hiện với Hiệp hội, doanh nghiệp trong việc triển khai các hoạt động liên quan đến EUDR. 

Về phía doanh nghiệp cần chủ động rà soát chuỗi cung ứng, xây dựng cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro, cơ chế chia sẻ và phản hồi thông tin thông qua ứng dụng công nghệ tích hợp. Duy trì xây dựng các chuỗi cung nguyên liệu có chứng chỉ bền vững nhằm tạo cơ sở bước đầu giúp đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Chủ động hợp tác với doanh nghiệp nhập khẩu của EU để nắm bắt thông tin cập nhật về quy định trong EUDR, đối thoại với nhà nhập khẩu về lộ trình từng bước thay đổi, điều chỉnh chuỗi cung hiện tại của doanh nghiệp, qua đó đáp ứng chặt chẽ các yêu cầu của EUDR.

Khánh Mai (t/h)

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang