Tái cấu trúc chương trình KHCN & ĐMST quốc gia, hướng tới hiệu quả có thể đo đếm

author 14:54 05/11/2026

(VietQ.vn) - Việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035 hướng tới tinh gọn hệ thống, tập trung nguồn lực và đổi mới phương thức quản lý. Đáng chú ý, hiệu quả chương trình sẽ được đánh giá thông qua những mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, gắn với năng lực làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Thời gian qua, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia là công cụ quan trọng để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời có những đóng góp quan trọng vào phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước.

Giai đoạn 2016-2025, với khoảng 42 chương trình, cả nước đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống WOS và Scopus, đồng thời đào tạo được 1.579 tiến sĩ. Những kết quả này góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế. Nguồn nhân lực còn phân tán, số lượng chương trình và nhiệm vụ tương đối nhiều, trong khi không ít nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa. Bên cạnh đó, tính liên thông giữa kết quả nghiên cứu với hoạt động phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa chưa thực sự hiệu quả. Phương thức quản lý còn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, trong khi việc đánh giá hiệu quả và tác động thực tế của các chương trình chưa được quan tâm đầy đủ.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ.

Chia sẻ về Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035” (Quyết định số 1951/QĐ-TTg), ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, việc tái cấu trúc được xác định là yêu cầu cần thiết nhằm khắc phục những điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Theo đó, việc tái cấu trúc hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án được chia thành 06 nhóm theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và định hướng kết quả, bao gồm:

Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Mục tiêu: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tổ chức nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật dùng chung nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển quốc gia.

Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản. Mục tiêu: Tạo ra tri thức mới, phát triển nền tảng khoa học quốc gia, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách và tạo nền tảng cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia. Mục tiêu: Tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, có tác động quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, xã hội, con người và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia. Mục tiêu: Hỗ trợ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua việc ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật; xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.

Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt. Mục tiêu: Tập trung nguồn lực triển khai chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt và chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Chương trình quốc gia đặc biệt tập trung vào các mục tiêu có quy mô lớn, ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển công nghệ chiến lược, nghiên cứu chiến lược và chính sách có giá trị lớn, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong nước, quốc phòng và an ninh; chương trình phát triển công nghệ chiến lược tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia. Mục tiêu: Tổ chức thực hiện các mục tiêu, định hướng của Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số và Chương trình Chuyền đổi số quốc gia; thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, liên thông trên phạm vi quốc gia, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trên môi trường số.

Điểm đáng chú ý của Đề án là xác định các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường, thay vì chỉ dừng ở những định hướng mang tính định tính. Cụ thể, đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; ti lệ này tăng lên 60% vào năm 2035.

Tỉ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế phấn đấu đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035. Đồng thời, hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035.

Hình thành tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phầm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 05 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; hỗ trợ tối thiểu 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất;…

Ông Hoàng Anh Tú cho rằng, những chỉ tiêu này thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy quản lý. Thành công của các chương trình khoa học và công nghệ không chỉ được đo bằng số lượng công trình nghiên cứu, mà ngày càng phải thể hiện thông qua năng lực làm chủ công nghệ, số lượng và chất lượng sản phẩm được thương mại hóa cũng như sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia không đơn thuần là sắp xếp lại hệ thống chương trình, mà còn là đổi mới phương thức tổ chức và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Qua đó, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm và nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đối với tăng trưởng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thanh Tùng

Thích và chia sẻ bài viết:
Từ khóa:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang