Chuẩn hóa nguồn gen gà Kiến phục vụ phát triển chăn nuôi bền vững
(VietQ.vn) - Gà Kiến là một trong những giống gà nội địa có giá trị của Việt Nam, được người dân nhiều địa phương duy trì và phát triển qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa gắn với phát triển chăn nuôi hàng hóa, việc xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với giống gà này có ý nghĩa quan trọng. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12469-11:2025 được ban hành nhằm quy định các yêu cầu đối với gà Kiến nuôi làm giống, tạo cơ sở cho công tác chọn lọc, nhân giống và bảo tồn nguồn gen vật nuôi trong nước.
TCVN 14137:2025 đo tiêu thụ điện năng của ô tô điện
Tiêu chuẩn hóa thiết bị y tế từ xa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
Xây dựng bộ tiêu chí nhận diện giống gà Kiến
TCVN 12469 hiện là bộ tiêu chuẩn về các giống gà nội của Việt Nam, gồm nhiều phần dành cho các giống gà đặc trưng như gà Ác, gà Mía, gà Hồ, gà Ri, gà H’Mông, gà Đông Tảo, gà Tre, gà Nhiều Cựa, gà Tiên Yên, gà Chọi và nay được bổ sung thêm phần dành cho gà Kiến.
Một trong những nội dung quan trọng của tiêu chuẩn là quy định chi tiết các đặc điểm ngoại hình của gà Kiến ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Các chỉ tiêu được mô tả bao gồm hình dáng cơ thể, màu lông, mào, tích, mỏ, da, đuôi và chân. Việc chuẩn hóa các đặc điểm nhận dạng giúp phân biệt gà Kiến với các giống gà khác, đồng thời tạo cơ sở cho công tác chọn giống và bảo tồn nguồn gen.

Chuẩn hóa nguồn gen gà Kiến phục vụ phát triển chăn nuôi bền vững. (Ảnh minh họa)
Theo tiêu chuẩn, gà Kiến trưởng thành có tầm vóc nhỏ, đầu nhỏ, cổ thanh, thân hình cân đối; da và chân màu vàng. Gà trống có lông đuôi cong dài, trong khi gà mái có đuôi túm đặc trưng. Những đặc điểm này được xem là dấu hiệu nhận biết quan trọng của giống gà Kiến.
Không chỉ dừng lại ở đặc điểm ngoại hình, TCVN 12469-11:2025 còn quy định hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gà Kiến.
Tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu về kích thước cơ thể như dài thân, vòng ngực, dài lườn, cao chân và chiều dài lông cánh ở các mốc 8 tuần tuổi và 38 tuần tuổi. Đồng thời, khối lượng cơ thể của gà giống cũng được quy định cụ thể từ giai đoạn một ngày tuổi đến thời điểm trưởng thành.
Việc xác định các ngưỡng kỹ thuật này giúp cơ sở chăn nuôi đánh giá chất lượng đàn giống, hạn chế tình trạng lai tạp hoặc suy giảm các đặc tính vốn có của giống gà bản địa.
Bên cạnh khả năng sinh trưởng, tiêu chuẩn cũng đưa ra các chỉ tiêu về sinh sản như tuổi bắt đầu đẻ, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ trứng đủ tiêu chuẩn làm giống, mức tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi. Đây là những thông số quan trọng để đánh giá hiệu quả khai thác và duy trì đàn giống.
Đặc biệt, việc quy định tỷ lệ trứng giống đạt chuẩn, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ gà loại 1 giúp nâng cao chất lượng con giống ngay từ khâu sản xuất, góp phần cải thiện hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Góp phần bảo tồn và phát triển giống vật nuôi bản địa
Trong nhiều năm qua, bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành nông nghiệp. Các giống vật nuôi nội không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng nguồn gen quý phục vụ công tác nghiên cứu, lai tạo và thích ứng với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam.
Việc ban hành TCVN 12469-11:2025 được xem là bước đi cần thiết nhằm chuẩn hóa các tiêu chí kỹ thuật đối với giống gà Kiến. Khi có bộ tiêu chuẩn thống nhất, các cơ sở nghiên cứu, trung tâm giống và hộ chăn nuôi sẽ có cơ sở khoa học để lựa chọn, đánh giá và nhân giống đúng tiêu chuẩn.
Bên cạnh đó, tiêu chuẩn còn góp phần nâng cao chất lượng con giống, hạn chế nguy cơ thoái hóa giống và tạo điều kiện để xây dựng các mô hình chăn nuôi gà bản địa theo hướng hàng hóa. Đây cũng là tiền đề quan trọng để phát triển các sản phẩm chăn nuôi đặc sản gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị kinh tế cho người sản xuất.
Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm nông nghiệp bản địa, an toàn và có nguồn gốc rõ ràng, việc chuẩn hóa các giống vật nuôi nội thông qua hệ thống tiêu chuẩn quốc gia không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn mở ra cơ hội phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi Việt Nam.
Cẩm Anh











