Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường
(VietQ.vn) - Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với khu vực hợp tác xã (HTX), nhưng bài toán không nằm ở việc sở hữu bao nhiêu phần mềm hay thiết bị công nghệ. Với HTX, điểm khởi đầu quan trọng hơn cả là dữ liệu. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, công nghệ mới thực sự trở thành công cụ giúp HTX quản trị tốt hơn, minh bạch sản phẩm và từng bước mở rộng thị trường.
Tại Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” diễn ra ngày 7/10/2026 tại Hà Nội, vấn đề này được đặt ra khá rõ: HTX hiện không thiếu công nghệ, mà đang thiếu dữ liệu được tổ chức bài bản để biến công nghệ thành giá trị kinh tế. Diễn đàn do Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác phối hợp tổ chức.

Các diễn giả trao đổi xung quanh vấn đề chuyển đổi số trong hợp tác xã
Dữ liệu phải đi trước công nghệ
Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, ở mức “bắt đầu”. Đáng chú ý, chỉ khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị, trong khi khoảng 35% đã ứng dụng truy xuất nguồn gốc.
Những con số này cho thấy một nghịch lý: thiết bị số ngày càng phổ biến, điện thoại thông minh đã trở thành công cụ quen thuộc, nhưng dữ liệu phục vụ quản trị và sản xuất tại nhiều HTX vẫn rời rạc, thiếu chuẩn hóa.
Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Hoàng Hữu Hạnh cho rằng, nếu HTX mua công nghệ ở đầu ra trong khi dữ liệu đầu vào chưa được chuẩn hóa thì đang đầu tư “lệch thứ tự”. Với HTX, dữ liệu không phải khái niệm xa vời mà chính là những thông tin phát sinh hằng ngày trong quá trình sản xuất và kinh doanh.
Đó có thể là danh sách thành viên, diện tích vùng nguyên liệu, nhật ký canh tác, vật tư sử dụng, thời điểm thu hoạch, sản lượng, chất lượng, chi phí, tồn kho, đơn hàng và thông tin khách hàng. Khi những dữ liệu này được ghi nhận thống nhất, HTX mới có thể trả lời chính xác những câu hỏi căn bản: đang sản xuất gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng thế nào, chi phí ra sao và thị trường đang cần gì. Đây cũng là nền móng để HTX chuyển từ phương thức quản lý dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất vai trò của dữ liệu là truy xuất nguồn gốc. Theo TCVN 12850:2019, truy xuất nguồn gốc là khả năng theo dõi, xác định một đơn vị sản phẩm qua từng công đoạn sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển và phân phối. Bản chất của truy xuất không phải là dán một chiếc tem lên sản phẩm, mà là ghi nhận và liên kết dữ liệu theo nguyên tắc “một bước trước – một bước sau”.
Đây là điểm các HTX cần đặc biệt lưu ý khi triển khai chuyển đổi số. Khoảng 35% HTX đã sử dụng mã QR là tín hiệu tích cực, nhưng con số này chưa đồng nghĩa với việc 35% HTX đã có năng lực truy xuất nguồn gốc đáp ứng yêu cầu của chuỗi giá trị hiện đại.
Trong chuỗi dữ liệu đó, HTX có một vị trí đặc biệt. HTX là nơi có thể tổ chức thành viên ghi nhật ký sản xuất theo một mẫu thống nhất; gom sản phẩm của nhiều hộ thành từng lô và biết chính xác lô hàng đến từ hộ nào, thửa nào, thời điểm thu hoạch nào; đồng thời là đầu mối kết nối thành viên với cơ quan quản lý, đơn vị công nghệ và doanh nghiệp bao tiêu.
Nói cách khác, HTX có thể trở thành “trạm trung chuyển dữ liệu” giữa người sản xuất và thị trường. Khi dữ liệu sản xuất được xác thực, truy xuất nguồn gốc không chỉ phục vụ người tiêu dùng mà còn trở thành tài sản của HTX. Lịch sử sản xuất minh bạch có thể giúp HTX chứng minh năng lực với nhà phân phối, đối tác xuất khẩu và từng bước tạo cơ sở để tiếp cận tín dụng.
Từ dữ liệu sản xuất đến giá trị sản phẩm
Cùng một sản phẩm nhưng giá trị trên thị trường có thể rất khác nhau tùy khả năng chứng minh chất lượng và nguồn gốc. Tại diễn đàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân dẫn chứng, cùng là cà phê nhân xanh nhưng có sản phẩm chỉ ở mức 200.000-400.000 đồng/kg, trong khi những sản phẩm đáp ứng các yêu cầu cao hơn có thể đạt 1-2 triệu đồng/kg, thậm chí cao hơn.

Bà Cao Xuân Thu Vân- Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu tại sự kiện
Khoảng cách đó không đơn thuần nằm ở bản thân hạt cà phê, mà còn nằm ở khả năng chứng minh chất lượng, nguồn gốc và câu chuyện phía sau sản phẩm.“Câu chuyện sản phẩm” vì thế không thể chỉ là câu chuyện truyền thông. Nó phải được xây dựng trên nền tảng dữ liệu có thể kiểm chứng. Người tiêu dùng ngày càng muốn biết sản phẩm đến từ đâu, được sản xuất như thế nào, tiêu chuẩn gì, ai sản xuất và quá trình lưu thông ra sao.
Khi những thông tin đó được số hóa và xác thực, HTX có thêm công cụ để xây dựng niềm tin. Và niềm tin chính là một yếu tố quan trọng để sản phẩm bước vào những thị trường có yêu cầu cao hơn.
Chuyển đổi số phải giải quyết bài toán kinh tế của HTX
Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi tạo ra hiệu quả kinh tế. Đây là lý do chuyển đổi số với HTX trước hết phải được nhìn nhận như một quyết định đầu tư.
Năm 2023, bình quân một HTX có doanh thu khoảng 7,4 tỷ đồng nhưng lợi nhuận trước thuế chỉ khoảng 250,8 triệu đồng. Trong bối cảnh biên lợi nhuận còn mỏng, một khoản đầu tư công nghệ 100 triệu đồng tương đương khoảng 40% lợi nhuận bình quân của một HTX trong cả năm.
Vì vậy, câu hỏi “đầu tư bao nhiêu?” phải đi cùng câu hỏi “giải quyết được vấn đề gì và thu về bao nhiêu?”. Với HTX có doanh thu khoảng 5-10 tỷ đồng/năm, một phương án chuyển đổi số theo hướng từng bước có thể bắt đầu với khoảng 41-97 triệu đồng trong năm đầu, tập trung vào ba nhóm: tài chính và sổ thành viên; bán hàng, kho và dữ liệu sản phẩm; con người và chuẩn hóa dữ liệu.
Đáng chú ý, phần dành cho con người và dữ liệu được khuyến nghị chiếm không dưới 40% ngân sách năm đầu. Đây là khoản thường bị xem nhẹ nhưng lại quyết định hệ thống có được sử dụng thực chất hay không.
Nếu chỉ có khoảng 50 triệu đồng, HTX không nên cố xây dựng một hệ thống công nghệ đồ sộ. Ưu tiên nên là số hóa kế toán, sổ giao dịch thành viên, hóa đơn điện tử, thanh toán qua tài khoản; đồng thời chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm và quy trình sản xuất.
Nguyên tắc phù hợp là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, ưu tiên các nền tảng có thể thuê, sử dụng ngay, cho phép xuất dữ liệu và kết nối với những hệ thống khác. Điều này cũng giúp HTX tránh một rủi ro phổ biến: mua công nghệ trước khi xác định rõ vấn đề cần giải quyết.

Sản xuất rau lưới tại các hợp tác xã. Ảnh: internet
Từ dữ liệu đến thị trường
Khi dữ liệu đã được chuẩn hóa, giá trị lớn nhất của chuyển đổi số mới bắt đầu xuất hiện ở khâu thị trường. Với thị trường trong nước, dữ liệu truy xuất được xác thực có thể giúp sản phẩm HTX đáp ứng yêu cầu của các hệ thống phân phối hiện đại và thương mại điện tử. Người tiêu dùng có thể kiểm tra thông tin sản phẩm, trong khi nhà phân phối có thêm cơ sở đánh giá nguồn hàng.
Đối với xuất khẩu, dữ liệu còn có thể trở thành một phần của quá trình kiểm tra, xác thực và thông quan. Khi các hệ thống dữ liệu được kết nối, lịch sử sản xuất và tuân thủ của HTX có thể giúp giảm khai báo trùng lặp, rút ngắn thời gian xử lý và giảm chi phí.
Từ góc độ thị trường, đây là bước chuyển quan trọng: HTX không còn chỉ bán một lô hàng, mà có thể bán cả năng lực chứng minh của mình.
Tương tự, mã QR, website hay mạng xã hội chỉ là công cụ. Nếu dữ liệu đầu vào không chính xác, sản phẩm không ổn định hoặc không có người chịu trách nhiệm cập nhật thông tin thì công nghệ khó tạo ra giá trị.
Một điểm nghẽn lớn khác là nhân lực. Theo số liệu tại diễn đàn, 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn và chỉ khoảng 13% có trình độ đại học trở lên. Khả năng sử dụng smartphone khá cao nhưng mức độ sử dụng máy tính cho công việc còn thấp. Do đó, không phải HTX nào cũng cần xây dựng một bộ phận công nghệ thông tin riêng. Trong nhiều trường hợp, thuê dịch vụ hoặc sử dụng nền tảng dùng chung sẽ phù hợp hơn.
Vấn đề lớn hơn là cần một hệ sinh thái hỗ trợ HTX, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng dữ liệu; Liên minh HTX Việt Nam kết nối nhu cầu với công nghệ, tài chính và thị trường; doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp đơn giản, dễ sử dụng; còn HTX tập trung vào việc chuẩn hóa dữ liệu và thay đổi phương thức quản trị.
Một nền tảng số dùng chung có thể giúp giải quyết bài toán chi phí cố định, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật mà từng HTX riêng lẻ khó thực hiện. Quan trọng hơn, các nền tảng này phải bảo đảm khả năng liên thông và cho phép HTX xuất dữ liệu của mình, tránh phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Chuyển đổi số không phải cuộc chạy đua xem HTX nào có nhiều phần mềm hơn. Đó là quá trình thay đổi cách HTX tổ chức sản xuất, quản trị và kết nối thị trường. Điểm chung là dữ liệu phải đi trước, công nghệ đi cùng bài toán quản trị và thị trường phải là đích đến.
Và khi toàn bộ quá trình đó tạo ra chi phí thấp hơn, sản xuất hiệu quả hơn, thị trường rộng hơn và thu nhập tốt hơn cho thành viên, chuyển đổi số mới thực sự có ý nghĩa. Như thông điệp được nhấn mạnh tại diễn đàn, dữ liệu là nguồn lực, công nghệ là công cụ, thị trường là đích đến; hiệu quả hoạt động của HTX và thu nhập của thành viên mới là thước đo cuối cùng của chuyển đổi số.
Lê Kim Liên












