Phát triển kinh tế Nhà nước: Cơ chế, nguồn lực và tư duy mới
(VietQ.vn) - Trao đổi với phóng viên, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh Nghị quyết 79-NQ/TW không chỉ làm rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mà còn đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết, hợp tác với khu vực tư nhân, qua đó nâng cao năng lực tự chủ và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.
Xác lập những nội hàm mới của kinh tế nhà nước
Nguồn lực sản phẩm trong thời đại số
Hội tụ nguồn lực, tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
.jpg)
TS. Cấn Văn Lực.
Nghị quyết 79-NQ/TW có ý nghĩa như thế nào đối với việc thúc đẩy các trụ cột trong phát triển kinh tế nhà nước và mối liên kết giữa các khu vực kinh tế, thưa ông?
Tôi cho rằng, Nghị quyết 79 ban hành vào thời điểm hiện nay là rất phù hợp, bởi sẽ giúp phát triển đồng bộ cả ba khu vực kinh tế. Với khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta đã có Nghị quyết 68. Với kinh tế nhà nước, bây giờ đã có Nghị quyết 79. Và tôi tin là sắp tới sẽ có một nghị quyết hoặc một chiến lược về thu hút FDI.
Như thế thì sẽ bảo đảm được thế “kiềng ba chân” đủ mạnh và góp phần giúp nền kinh tế có thể tăng trưởng hai con số. Hơn nữa, chúng ta có một định hướng rất rõ là phải phối kết hợp, gắn kết giữa kinh tế nhà nước với hai khu vực kinh tế còn lại, đó là kinh tế tư nhân và khu vực FDI, như thế sẽ bảo đảm tính liên kết giữa ba khu vực chặt chẽ hơn, hạn chế hiện tượng ba khu vực kinh tế tồn tại song song với nhau – một trạng thái rõ ràng không hiệu quả và làm giảm tính tự lực, tự chủ của nền kinh tế.
Kinh tế nhà nước lâu nay nắm giữ, quản lý một lượng tài sản rất lớn, nguồn lực rất lớn của nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, đâu đó cũng có một số lĩnh vực, doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả và hiện tượng liên quan đến lãng phí vẫn còn diễn ra, nhất là liên quan đến tài sản công. Chính vì thế Nghị quyết này là rất cần thiết và cần phải có.
Theo ông, những đột phá lớn nhất về tư duy và thể chế trong Nghị quyết 79 lần này là gì?
Nghị quyết đã giúp làm rõ hơn khái niệm, nội hàm về kinh tế nhà nước mà lâu nay chúng ta đã có nhưng chưa đầy đủ, toàn diện và cập nhật. Nội hàm lần này rất rộng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên khoáng sản, không gian ngầm, không gian tầm thấp, vũ trụ… hay cả các yếu tố tài chính và phi tài chính, kể cả các công trình đầu tư công.
Bên cạnh đó, Nghị quyết đã kiến tạo ra nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, hợp lý để khu vực này phát triển nhanh, mạnh và xứng đáng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Cùng với đó, đưa ra định hướng rất rõ về việc tách bạch nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh. Đây là vấn đề rất quan trọng, vì lâu nay vẫn chưa rõ ràng, đôi chỗ còn bị đánh đồng, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Ngoài ra, Nghị quyết cũng đưa ra tư duy mới về vai trò của nhà nước. Có lúc nhà nước là nhà quản lý, kiến tạo; có lúc lại là nhà đầu tư (ví dụ đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp). Tức là không còn chỉ “quản lý, giám sát thật chặt” như trước đây.
Cùng với đó, Nghị quyết cũng tiếp tục nhấn mạnh việc tách bạch giữa sở hữu và quản lý trong khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó nhấn mạnh vai trò của đại diện chủ sở hữu. Đây là một điểm rất quan trọng, vì lâu nay chủ sở hữu của các DNNN, các cơ quan quản lý tại DNNN cơ bản là chưa thể hiện tốt vai trò, chức trách của mình thì lần này Nghị quyết 79 yêu cầu phải làm tốt. Đồng thời, Nghị quyết cũng tạo cơ chế để phát triển nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ quản lý; và điều chỉnh tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vốn theo hướng đánh giá cả quá trình, cả danh mục, thay vì từng dự án hay từng năm.

Nghị quyết 79 cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao vai trò của kinh tế nhà nước trong bảo đảm tự chủ chiến lược. Ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?
Nghị quyết đã tạo ra cơ chế, chính sách, định hướng để góp phần tăng khả năng huy động và phân bổ nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực nhà nước. Trong bối cảnh có rất nhiều rủi ro, bất định từ bên ngoài, thì câu chuyện về tự lực, tự chủ chiến lược, tự cường và nâng sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế là rất quan trọng.
Nghị quyết này góp phần giúp cho kinh tế nhà nước giữ được vai trò đó ở một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, nhất là liên quan đến an ninh quốc gia. Ví dụ như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh nguồn nước và cả an ninh mạng gắn với an toàn thông tin, dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số.
Đối với các tổ chức tín dụng nhà nước, Nghị quyết 79 có những điểm nhấn gì đáng chú ý, thưa ông?
Với lĩnh vực ngân hàng, lần đầu tiên trong một nghị quyết đã có phần riêng về các tổ chức tín dụng nhà nước, bởi vì đây là khu vực có tính đặc thù so với DNNN thông thường.
Trong đó, bên cạnh yêu cầu tổ chức, sắp xếp mạng lưới ngân hàng thương mại Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động thì một điểm mới quan trọng là yêu cầu tiếp tục quan tâm tăng vốn, nhất là vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu cho các tổ chức tín dụng nhà nước. Việc này nhằm tăng thêm nguồn lực tài chính, nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc tế, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng thời bảo đảm an toàn về quản trị rủi ro, nhất là rủi ro về an toàn vốn và thanh khoản.
Theo ông, để Nghị quyết 79 thực sự đi vào cuộc sống, cần tập trung vào những giải pháp triển khai nào trong thời gian tới?
Theo tôi, có một số việc cần làm.
Một là, ở từng ngành nghề, lĩnh vực cần rà soát xem Nghị quyết 79 liên quan như thế nào đến mình (nhất là liên quan trực tiếp đến đặc thù ngành nghề, lĩnh vực của mình), từ đó có tóm tắt tinh thần nghị quyết để phổ biến trong ngành, đặc biệt là những nội dung quan trọng.
Hai là, xây dựng chương trình hành động theo tính chất thực chất, gắn rất cụ thể với ngành nghề, lĩnh vực của mình, với thời gian và KPI để đo lường kết quả cụ thể.
Ba là, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả vốn và hiệu quả đầu tư của nhà nước phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực. Ví dụ như trong lĩnh vực ngân hàng thì tiêu chí đánh giá hiệu quả đối với ngân hàng thương mại Nhà nước có gì khác so với ngân hàng thương mại tư nhân.
Bốn là, cần có phương án để tăng cường khả năng huy động, phân bổ và khai thác nguồn lực nhà nước một cách hiệu quả, bao gồm đất đai, vốn và cả nguồn nhân lực, làm sao không bị lãng phí.
Năm là, cần sớm cụ thể hóa hai nội dung rất quan trọng trong Nghị quyết, đó là tách bạch nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; và giải pháp tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu cho các tổ chức tín dụng nhà nước. Đây là yêu cầu rất cấp bách trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế lớn, trong khi môi trường bên ngoài còn nhiều rủi ro, bất định và rõ ràng càng cần phải tăng bộ đệm cho hệ thống, đặc biệt là các tổ chức tín dụng nhà nước.
Sáu là, cần tiếp tục hoàn thiện quản trị DNNN nói chung và các tổ chức tín dụng nhà nước nói riêng. Ví dụ như các tiêu chí về quản trị doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng nhà nước cần được cụ thể hóa, như có thể tham khảo theo chuẩn mực OECD hay áp dụng theo chuẩn mực nào.
Bảy là, cần làm rõ các giải pháp để tăng cường vai trò của đại diện chủ sở hữu tại DNNN, tại các tổ chức tín dụng nhà nước nói riêng. Gắn với đó là tăng hiệu lực, hiệu quả quản trị tổng thể, hoàn thiện cơ cấu hội đồng quản trị, trong đó có thành viên độc lập; nâng cao hiệu quả của bộ phận kiểm toán, kiểm soát…
Rõ ràng là còn rất nhiều việc phải làm, và yêu cầu đặt ra là phải triển khai một cách thực chất, hiệu quả.
Xin cảm ơn ông!
Đỗ Lê (thực hiện)










