Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững
(VietQ.vn) - Luật Dầu khí năm 2026 được kỳ vọng tạo cú hích cho ngành dầu khí thông qua tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đơn giản hóa thủ tục và bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư. Đặc biệt, những chính sách dành cho các mỏ dầu khí cận biên có thể mở ra cơ hội khai thác nguồn tài nguyên còn tiềm năng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao hiệu quả phát triển toàn ngành.
Khơi thông nguồn lực
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng, ngành dầu khí đứng trước yêu cầu vừa bảo đảm nguồn cung, vừa đổi mới mô hình phát triển theo hướng hiệu quả và bền vững. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ khai thác, nhiều mỏ chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên. Những biến động địa chính trị, yêu cầu huy động nguồn vốn lớn cho các dự án mới và sức ép giảm phát thải cũng đặt ra những thách thức ngày càng rõ nét.
Tại Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức chiều 29/10/2026, ông Đào Quang Bính- Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Tổng Thư ký tòa soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của năng lượng và công nghiệp dầu khí đối với an ninh năng lượng quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô. Theo ông, để thích ứng với bối cảnh mới, ngành dầu khí cần tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị, gia tăng trữ lượng, nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.

Ông Đào Quang Bính- Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam. Ảnh: BTC
Trong tiến trình đó, hoàn thiện thể chế là một trong những điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực. Luật Dầu khí số 10/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, được kỳ vọng mở ra hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động dầu khí, tăng tính chủ động của doanh nghiệp và cải thiện sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Theo ông Phan Đức Hiếu- đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI, việc sửa đổi, nâng tầm Luật Dầu khí nhằm tiếp tục “mở đường cho sự phát triển”, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trong điều kiện nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Ông chỉ ra năm nhóm điểm mới đáng chú ý của luật, gồm phân cấp, phân quyền; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; thu hút đầu tư; phát triển ngành dịch vụ dầu khí; và nâng cao hiệu quả hoạt động dầu khí.
Những thay đổi này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Một hành lang pháp lý rõ ràng, thủ tục linh hoạt và cơ chế phân chia lợi ích phù hợp có thể giúp giảm thời gian chuẩn bị dự án, hạn chế chi phí phát sinh và cải thiện khả năng dự báo của nhà đầu tư. Đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng đối với ngành dầu khí, nơi các dự án thường có quy mô vốn lớn, thời gian triển khai dài và chịu nhiều rủi ro về địa chất, kỹ thuật cũng như thị trường.
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp
Ông Phan Đức Hiếu cho biết, điểm đáng chú ý của Luật Dầu khí năm 2026 là định hướng phân định rõ hơn thẩm quyền giữa Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) trong quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn.
Cụ thể, Luật Dầu khí 2026 đã phân cấp, phân quyền theo hướng xác định rõ trách nhiệm giữa Thủ tướng, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam). Thủ tướng tập trung vào các vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng; Bộ Công Thương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; Petrovietnam được giao thêm thẩm quyền đối với các vấn đề kỹ thuật phù hợp với năng lực.
Luật mới cũng hướng đến đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện xử lý linh hoạt một số thay đổi trong hợp đồng dầu khí và thúc đẩy đầu tư vào những dự án có tính chất đặc thù.

Ông Phan Đức Hiếu- đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI
Trong các nội dung của Luật Dầu khí năm 2026, cơ chế ưu đãi dành cho hoạt động đầu tư có ý nghĩa đặc biệt đối với các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và những khu vực có điều kiện khai thác khó khăn.
Đối với các mỏ cận biên, cơ chế ưu đãi đặc biệt được đề cập gồm thuế thu nhập doanh nghiệp 25%, thuế xuất khẩu 5% và cho phép thu hồi toàn bộ chi phí theo điều kiện áp dụng. Đây là một trong những giải pháp nhằm khuyến khích khai thác những mỏ có hiệu quả kinh tế thấp hoặc điều kiện khai thác khó khăn.
Một nội dung khác của Luật Dầu khí năm 2026 là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Định hướng ưu tiên những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đặc thù, có khả năng thay thế nhập khẩu hoặc tham gia thị trường quốc tế có thể tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực chế tạo, xây lắp và vận hành công trình biển.
Trong bối cảnh các dự án ngoài khơi ngày càng phức tạp, năng lực tự chủ về thiết bị và dịch vụ kỹ thuật không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Cùng với đó, ứng dụng dữ liệu số, tự động hóa và công nghệ giám sát có thể hỗ trợ tối ưu vận hành, nâng cao hệ số thu hồi, kiểm soát an toàn và giảm chi phí khai thác.
Mở ra chu kỳ đầu tư mới
Luật Dầu khí năm 2026 mở ra kỳ vọng về một chu kỳ đầu tư mới, nhưng tác động thực tế sẽ phụ thuộc vào chất lượng tổ chức thực hiện. Các quy định cần được hướng dẫn rõ ràng, thống nhất; quy trình phối hợp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp phải minh bạch; còn các cơ chế ưu đãi cần có tiêu chí xác định đối tượng, điều kiện hưởng và phương thức giám sát cụ thể.
Đối với Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia (Petrovietnam), yêu cầu đặt ra là tận dụng quyền chủ động được mở rộng để nâng cao năng lực quản trị dự án, lựa chọn công nghệ phù hợp, kiểm soát chi phí và tăng cường hợp tác với các nhà đầu tư, nhà thầu có năng lực. Việc chuyển mình theo định hướng Petrovietnam vận hành trên ba trụ cột năng lượng, công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao, cũng đòi hỏi đổi mới tư duy quản trị và phân bổ nguồn lực theo hiệu quả dài hạn.
Tại diễn đàn, các đại biểu cho rằng, từ việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế đến khơi thông nguồn lực cho mỏ cận biên, từ phát triển dịch vụ kỹ thuật đến mở rộng sang năng lượng mới, các định hướng của Petrovietnam cần được triển khai trong một chiến lược thống nhất. Thành công không chỉ được phản ánh qua số lượng dự án được phê duyệt hay sản lượng khai thác tăng thêm, mà còn qua khả năng nâng cao giá trị gia tăng trong nước, bảo đảm an ninh năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm tác động môi trường.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng và áp lực chuyển dịch xanh ngày càng rõ nét, hoàn thiện thể chế chính là bước khởi đầu để ngành dầu khí đổi mới mô hình phát triển. Nếu những cơ chế mới được thực thi hiệu quả, đặc biệt là chính sách ưu đãi phù hợp cho các mỏ cận biên, ngành dầu khí sẽ có thêm cơ hội khai mở nguồn lực, củng cố năng lực và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới.
Lê Kim Liên












