TCVN 13887-3:2023 về nhiên liệu sinh học rắn
(VietQ.vn) - Độ ẩm là một trong những chỉ tiêu quyết định chất lượng nhiên liệu sinh học rắn. TCVN 13887-3:2023 đưa ra phương pháp xác định hàm lượng ẩm trong mẫu phân tích chung, góp phần chuẩn hóa kiểm nghiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu.
Sự kiện: TCVN và QCVN - THÔNG TIN TOÀN CẢNH
Nâng cao năng suất, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, ngành dệt may kiên định mục tiêu xuất khẩu 48 tỷ USD năm 2026
ASTM phát triển loạt tiêu chuẩn mới, mở đường cho thế hệ máy bay thể thao hạng nhẹ hiện đại
Khoa học, công nghệ trở thành động lực tăng trưởng bền vững của Lâm Đồng
Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo ngày càng tăng, nhiên liệu sinh học rắn như viên nén gỗ, dăm gỗ, mùn cưa, rơm rạ hay các phụ phẩm nông nghiệp đang trở thành nguồn năng lượng thay thế quan trọng, góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và cắt giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, để các loại nhiên liệu này phát huy hiệu quả, việc kiểm soát chất lượng là yêu cầu không thể thiếu, trong đó hàm lượng ẩm được xem là một trong những chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng nhất.
Nhằm thống nhất phương pháp thử và bảo đảm độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm, TCVN 13887-3:2023 (ISO 18134-3:2023) về Nhiên liệu sinh học rắn - Xác định hàm lượng ẩm - Phần 3: Hàm lượng ẩm trong mẫu phân tích chung đã được ban hành, tạo cơ sở kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng nhiên liệu sinh học rắn.
Độ ẩm có tác động lớn đến giá trị sử dụng của nhiên liệu sinh học rắn. Khi hàm lượng nước quá cao, nhiên liệu sẽ cháy kém, tỏa nhiệt thấp, làm giảm hiệu suất của lò hơi hoặc thiết bị đốt, đồng thời tăng lượng khói và khí thải phát sinh trong quá trình sử dụng. Ngược lại, việc xác định chính xác độ ẩm giúp đánh giá đúng giá trị nhiệt của nhiên liệu, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Không chỉ ảnh hưởng đến quá trình sử dụng, độ ẩm còn quyết định khả năng bảo quản nhiên liệu. Nếu bảo quản trong điều kiện độ ẩm cao, nhiên liệu có thể bị nấm mốc, phân hủy sinh học hoặc suy giảm chất lượng, làm tăng chi phí lưu kho và vận chuyển. Chính vì vậy, việc xác định chính xác hàm lượng ẩm là yêu cầu quan trọng trong toàn bộ chuỗi sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu nhiên liệu sinh học rắn.
TCVN 13887-3:2023 đưa ra phương pháp xác định hàm lượng ẩm trong mẫu phân tích chung của nhiên liệu sinh học rắn. Tiêu chuẩn áp dụng đối với các mẫu đã được chuẩn bị phục vụ phân tích trong phòng thử nghiệm.
Theo tiêu chuẩn, việc xác định độ ẩm được thực hiện thông qua phương pháp sấy mẫu trong điều kiện quy định để loại bỏ lượng nước có trong mẫu, sau đó xác định phần khối lượng hao hụt nhằm tính toán hàm lượng ẩm. Toàn bộ quy trình từ chuẩn bị mẫu, cân mẫu, điều kiện sấy, làm nguội đến tính toán kết quả đều được quy định thống nhất nhằm bảo đảm tính chính xác và khả năng so sánh giữa các phòng thử nghiệm.
Bên cạnh quy trình thử nghiệm, tiêu chuẩn cũng đưa ra các yêu cầu đối với thiết bị sử dụng như tủ sấy, cân phân tích, bình hút ẩm và các dụng cụ hỗ trợ khác nhằm hạn chế sai số trong quá trình đo. Việc chuẩn hóa phương pháp thử giúp kết quả xác định độ ẩm có độ tin cậy cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng cũng như giao dịch thương mại trong nước và quốc tế.
Việc áp dụng TCVN 13887-3:2023 giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát chất lượng sản phẩm ngay từ khâu sản xuất, giảm rủi ro trong quá trình lưu kho, vận chuyển và xuất khẩu. Đồng thời, kết quả thử nghiệm được thực hiện theo phương pháp tiêu chuẩn cũng góp phần nâng cao tính minh bạch, tạo niềm tin cho khách hàng và đối tác.
Bên cạnh lợi ích đối với doanh nghiệp, tiêu chuẩn còn là cơ sở để các cơ quan quản lý, tổ chức đánh giá sự phù hợp và phòng thử nghiệm thực hiện hoạt động kiểm tra chất lượng một cách thống nhất, hạn chế sự khác biệt về kết quả giữa các đơn vị thử nghiệm.
Trong bối cảnh chuyển dịch sang nền kinh tế xanh và phát triển năng lượng tái tạo, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế như TCVN 13887-3:2023 không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nhiên liệu sinh học rắn mà còn thúc đẩy sản xuất bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời đóng góp vào mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính.
An Dương











