TCVN 14160-8:2026 giống cây chè đầu dòng

author 05:55 05/11/2026

(VietQ.vn) - TCVN 14160-8:2026 quy định yêu cầu đối với cây chè đầu dòng và vườn cây đầu dòng, góp phần kiểm soát chất lượng nguồn vật liệu nhân giống chè.

Sự kiện: TCVN và QCVN - THÔNG TIN TOÀN CẢNH

Chất lượng giống là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất chè. Nếu nguồn cây giống không bảo đảm đặc tính của giống, sinh trưởng kém hoặc mang mầm sâu bệnh, người trồng có thể gặp khó khăn trong quá trình chăm sóc, thu hoạch và duy trì chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc lựa chọn, bình tuyển cây đầu dòng và xây dựng vườn cây đầu dòng có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý giống cây trồng.

Nhằm cụ thể hóa các yêu cầu đối với nguồn giống chè, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14160-8:2026 về giống cây nông nghiệp – Cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng – Phần 8: Giống chè đã được công bố. Tiêu chuẩn do Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Phạm vi áp dụng là các giống thuộc loài chè (Camellia sinensis).

Theo tiêu chuẩn, cây đầu dòng là cây tốt nhất được bình tuyển và công nhận từ quần thể cây trồng. Đây là nguồn cung cấp vật liệu phục vụ nhân giống, do đó cần đáp ứng các yêu cầu về đặc tính giống, tuổi cây, khả năng sinh trưởng, năng suất và tình trạng sâu bệnh.

Trước hết, cây chè được lựa chọn phải mang đầy đủ các tính trạng đặc trưng của giống, bảo đảm đúng giống. Yêu cầu về tuổi cây được phân biệt theo phương thức nhân giống. Với cây chè trồng từ hạt, tuổi cây tại thời điểm bình tuyển phải từ 10 năm trở lên và có ít nhất 2 năm thu hoạch ổn định. Đối với cây chè nhân giống vô tính, thời gian tối thiểu là 7 năm tuổi, đồng thời đã có ít nhất 2 năm thu hoạch ổn định.

Cây chè đầu dòng phải bảo đảm năng suất và đặc tính giống theo tiêu chuẩn. Ảnh minh họa

Riêng chè Shan tuyết cổ thụ không quy định tuổi cây, nhưng vẫn phải bảo đảm có ít nhất 2 năm thu hoạch ổn định. Quy định này thể hiện sự phân biệt giữa các nhóm cây chè, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng và phương thức nhân giống khác nhau.

Ngoài tuổi cây, tiêu chuẩn yêu cầu cây đầu dòng phải sinh trưởng khỏe, có tán cân đối và không có biểu hiện bị sâu bệnh hại. Đáng chú ý, năng suất búp phải cao hơn tối thiểu 15% so với năng suất trung bình của quần thể tại nơi bình tuyển. Mức năng suất này phải duy trì ổn định trong hai năm gần nhất tính đến thời điểm công nhận và được đánh giá định kỳ hằng năm.

Đối với sâu hại, cây chè đầu dòng không được nhiễm nặng các đối tượng gây hại chính như rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ (bọ trĩ), bọ xít muỗi. Mức độ nhiễm sâu hại không vượt quá cấp 1 theo hướng dẫn tại phụ lục của tiêu chuẩn. Đây là yêu cầu nhằm lựa chọn những cây có sức sinh trưởng tốt, hạn chế nguy cơ đưa vật liệu nhân giống mang sâu hại vào sản xuất.

Việc khai thác vật liệu từ cây đầu dòng cũng được kiểm soát. Thông thường, mỗi năm cây được khai thác một lần để phục vụ nhân giống; trong điều kiện cây sinh trưởng tốt và được quản lý phù hợp, có thể khai thác tối đa hai lần. Chủ sở hữu phải lập, lưu giữ hồ sơ bình tuyển, công nhận cây đầu dòng cùng nhật ký chăm sóc, bảo vệ và khai thác.

Không chỉ quy định đối với từng cây riêng lẻ, TCVN 14160-8:2026 còn đưa ra yêu cầu đối với vườn cây đầu dòng. Đây là vườn cây được nhân từ vật liệu khai thác ở cây đầu dòng hoặc được tổ chức, cá nhân thiết lập phục vụ khảo nghiệm để công nhận lưu hành giống, sau đó được thẩm định và công nhận theo quy định.

Theo đó, vườn chè đầu dòng phải được thiết lập từ nguồn vật liệu nhân giống phù hợp và bảo đảm tỷ lệ cây sống tối thiểu 90%. Tuổi vườn được tính từ năm thứ hai sau trồng trở đi. Các cây trong vườn phải đúng giống, sinh trưởng khỏe, tán cân đối và không có biểu hiện bị sâu bệnh hại.

Tương tự cây đầu dòng, vườn chè không được nhiễm nặng các loại sâu hại chính; mức độ nhiễm không vượt quá cấp 1 theo quy định. Một yêu cầu đáng chú ý khác là vườn chè đầu dòng không được trồng lẫn với vườn sản xuất đại trà. Giữa hai khu vực phải có đường phân lô để phân biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và kiểm soát vật liệu nhân giống.

Việc khai thác vật liệu nhân giống từ vườn cây đầu dòng không được thực hiện quá hai lần mỗi năm, tùy thuộc nhu cầu giống và điều kiện sinh trưởng của cây chè trong từng năm. Chủ sở hữu phải lưu giữ hồ sơ thẩm định, công nhận vườn cây đầu dòng và nhật ký chăm sóc, bảo vệ, khai thác.

TCVN 14160-8:2026 cũng hướng dẫn phương pháp kiểm tra các yêu cầu đối với cây và vườn cây đầu dòng. Việc xác định đặc tính giống được thực hiện căn cứ kết quả khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định (DUS). Tuổi cây, vị trí cây trên vườn được kiểm tra thông qua hồ sơ bình tuyển, hồ sơ thiết lập vườn, kết hợp khảo sát thực tế và phỏng vấn chủ hộ.

Đối với năng suất, việc kiểm tra được thực hiện bằng cách xác định trực tiếp năng suất búp trong ít nhất hai năm liên tục tại vườn, kết hợp phỏng vấn chủ hộ. Mức độ nhiễm sâu hại cũng là nội dung cần được kiểm tra theo các chỉ tiêu quy định tại phụ lục.

Bên cạnh đó, tiêu chuẩn yêu cầu việc trồng và chăm sóc cây chè đầu dòng, vườn chè đầu dòng thực hiện theo quy trình của tổ chức, cá nhân đứng tên đăng ký cấp quyết định lưu hành giống cây trồng. Phụ lục tham khảo của tiêu chuẩn đưa ra nội dung nhật ký chăm sóc và khai thác, bao gồm thông tin cây hoặc vườn cây, biện pháp đốn tỉa, thu hái, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh và lượng vật liệu nhân giống khai thác hằng năm.

Việc chuẩn hóa các yêu cầu từ khâu bình tuyển cây đầu dòng đến thiết lập, chăm sóc và khai thác vườn cây đầu dòng góp phần nâng cao khả năng kiểm soát nguồn giống chè. Đây cũng là cơ sở để các tổ chức, cá nhân sản xuất giống theo dõi chất lượng vật liệu nhân giống, hạn chế tình trạng lẫn giống và duy trì những đặc tính tốt của giống trong quá trình nhân rộng sản xuất.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang