Xuất khẩu gạo hướng tới chất lượng và bền vững
(VietQ.vn) - Định hướng tăng mạnh tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao trong cơ cấu xuất khẩu năm 2026 không chỉ nhằm nâng giá trị hạt gạo Việt Nam, mà còn là giải pháp chiến lược để giảm phụ thuộc thị trường, ứng phó với biến động cung – cầu và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
Cải tiến và công nghệ - mở lối cho ngành nhựa bứt phá
Dự báo an ninh đám mây năm 2026: Ngày càng phức tạp
Đắk Lắk đẩy mạnh hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trong cơ cấu sản xuất lúa gạo cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục giữ vai trò vùng trọng điểm, quyết định nguồn cung gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Năm 2026, diện tích sản xuất lúa của khu vực này (kể cả một phần tỉnh Tây Ninh) ước đạt 3,84 triệu ha, cho sản lượng khoảng 24,34 triệu tấn lúa.
Sau khi trừ nhu cầu tiêu thụ nội địa của khoảng 28 triệu dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và TP.Hồ Chí Minh, cùng lượng lúa làm giống, thức ăn chăn nuôi và các mục đích khác, tổng lượng lúa tiêu thụ nội địa ước khoảng 8,9 triệu tấn. Phần còn lại, khoảng 15,46 triệu tấn lúa hàng hóa, tương đương 7,73 triệu tấn gạo, được dành cho xuất khẩu.

Gạo ST 25 có hạt dài, trắng trong.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng ước khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm tới 75% tổng lượng xuất khẩu. Gạo nếp khoảng 773 nghìn tấn (10%), phần còn lại là gạo phục vụ chế biến, chiếm khoảng 15%.
Định hướng này phản ánh thay đổi rõ rệt trong tư duy phát triển ngành hàng lúa gạo. Thay vì cạnh tranh trực diện ở phân khúc gạo trắng thông thường có giá chỉ khoảng 300–350 USD/tấn, gạo Việt Nam đang dịch chuyển sang các dòng gạo thơm, gạo đặc sản có giá trị cao hơn và ít chịu áp lực cạnh tranh.
Thông tin tại buổi họp báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về “Kết quả thực hiện công tác năm 2025 và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2026”, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho biết, năm 2025 xuất khẩu gạo Việt Nam đạt hơn 8 triệu tấn, kim ngạch trên 4,06 tỷ USD, với giá bình quân khoảng 510 USD/tấn. Việt Nam đã vượt Thái Lan, vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, chỉ sau Ấn Độ.
“Chúng ta trồng nhiều giống lúa thơm hơn, nhờ đó giảm bớt cạnh tranh trực tiếp với gạo trắng thông thường và xây dựng được những thị trường riêng có giá trị cao hơn”, ông Đỗ Hà Nam nhấn mạnh.
Tuy nhiên, cùng với lợi thế, rủi ro thị trường cũng bộc lộ rõ nét. Hiện gần 45% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào thị trường Philippines. Khi thị trường này điều chỉnh chính sách, thị trường lúa gạo trong nước lập tức chịu tác động mạnh. Trong bối cảnh năm 2026 được dự báo tiếp tục biến động, việc nâng tỷ lệ diện tích sản xuất gạo thơm lên khoảng 70% được xem là chiến lược đúng hướng để giảm phụ thuộc và phân tán rủi ro.
Trước diễn biến thị trường phức tạp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào các tháng có sản lượng thu hoạch lớn, đồng thời bảo đảm duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu theo quy định. Việc thực hiện nghiêm chế độ báo cáo tồn kho được coi là nền tảng để từng bước hình thành công cụ giám sát, cảnh báo sớm rủi ro cung – cầu thóc gạo trên nền tảng số.
Bộ cũng yêu cầu doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng cho thị trường nội địa khi cần thiết, gắn điều hành xuất khẩu với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực. Cùng với đó là các giải pháp xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường và phân khúc sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và xây dựng kịch bản điều hành xuất – nhập khẩu gạo phù hợp với từng giai đoạn.
Ở góc độ chính sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã góp ý sửa đổi Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý nhập khẩu gạo nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và chuỗi giá trị lúa gạo trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
Về dài hạn, nhiều chuyên gia cho rằng định hướng phát triển gạo thơm, gạo đặc sản và “gạo xanh phát thải thấp” là lựa chọn phù hợp. Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy nhận định đây là chiến lược “định vị ngược dòng”, không chạy theo số lượng mà đầu tư vào chất lượng để thâm nhập các phân khúc cao cấp, ít cạnh tranh và bền vững hơn.

Theo kế hoạch năm 2026, diện tích gieo cấy lúa cả nước ước đạt 7,09 triệu ha.
Thực tế, Việt Nam đang là quốc gia tiên phong triển khai sản xuất lúa gạo phát thải thấp trên quy mô lớn. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỷ lệ gạo chất lượng cao trong tổng lượng xuất khẩu đã đạt khoảng 89%, trong đó 60–70% là gạo thơm và gạo đặc sản. Các thương hiệu như ST24, ST25, Hạt Ngọc Trời, VJ Pearl Rice… đang từng bước khẳng định vị thế tại EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Từ góc độ quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn tình trạng thủ tục chồng chéo, chi phí logistics cao, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, làm giảm sức cạnh tranh của gạo Việt. Tuy nhiên, trong hai năm tới, nhiều dự án hạ tầng giao thông và trung tâm logistics vùng được kỳ vọng sẽ hoàn thành, góp phần giảm chi phí lưu thông và kết nối hiệu quả hơn vùng nguyên liệu với thị trường xuất khẩu.
Trong bối cảnh diện tích lúa tiếp tục thu hẹp nhưng sản lượng vẫn được giữ ổn định nhờ năng suất tăng, ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cơ cấu mạnh mẽ. Định hướng nâng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao trong tổng lượng xuất khẩu năm 2026 được xem là trụ cột để nâng giá trị, giảm rủi ro thị trường và khẳng định thương hiệu gạo Việt trên bản đồ thế giới.
Thanh Hiền









