Rác thải nhựa từ sản xuất và buôn bán hoa tươi đem lại tác hại kép
(VietQ.vn) - Ngành hoa tươi tăng trưởng mạnh nhưng kéo theo lượng rác nhựa phức tạp. Lỗ hổng quản lý, định giá và chính sách khiến chi phí môi trường bị đẩy sang ngân sách công đô thị.
Vượt hàng rào kỹ thuật trong thương mại: Chìa khóa chinh phục thị trường quốc tế
Nestlé Việt Nam thúc đẩy thực hành an toàn vệ sinh lao động trong quản lý rác thải
Hà Nội khuyến khích tái chế và phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường
Ngành hoa tươi Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, với quy mô thị trường ước đạt khoảng 45.000 tỷ đồng năm 2023 và dự báo có thể chạm mốc 75.000 tỷ đồng vào năm 2030. Tuy nhiên, phía sau những bó hoa rực rỡ là một “mặt tối” ít được chú ý: lượng rác thải nhựa phức tạp phát sinh chỉ sau vài phút sử dụng, đặt ra áp lực lớn cho hệ thống môi trường đô thị.
Theo khảo sát thực địa do LoopNet.Asia thực hiện tại 185 cửa hàng hoa ở TP.Hồ Chí Minh vào tháng 3/2026 bằng công nghệ quét hồng ngoại (NIR), mỗi bó hoa hiện đại không chỉ gồm thực vật mà là tổ hợp nhiều vật liệu nhựa. Trung bình, một bó hoa chứa từ 30–70 gram nhựa, bao gồm giấy gói phủ nhựa, ruy băng, nơ trang trí và xốp cắm hoa.
Đáng chú ý, các chuyên gia phát hiện ít nhất 14 loại polymer khác nhau trong phụ kiện hoa. Trong đó, nhựa PP chiếm tỷ lệ lớn nhất (44,8%), tiếp đến là PET-G (24,1%). Một số loại nhựa khó hoặc không thể tái chế như PA (nylon) và PET-A chiếm khoảng 7,5%. Ngay cả nhựa sinh học PLA – thường được quảng bá là thân thiện môi trường – cũng chiếm 3,4% nhưng lại không có hệ thống tái chế phù hợp tại Việt Nam.
Từ góc độ kinh tế vòng đời, hoa tươi trở thành sản phẩm “nghịch lý”: thời gian sử dụng bao bì cực ngắn, thường dưới 10 phút sau khi trao tặng, nhưng cấu trúc vật liệu lại phức tạp bậc nhất. Điều này khiến quá trình thu gom và xử lý gần như không hiệu quả.

Hệ quả là chi phí môi trường bị “vô hình hóa” trong giá bán. Một bó hoa có thể dao động từ vài chục nghìn đến hàng triệu đồng, nhưng không bao gồm chi phí xử lý rác thải sau sử dụng. Theo cơ chế hiện tại, toàn bộ gánh nặng này đang chuyển sang hệ thống thu gom công cộng và ngân sách đô thị.
Chỉ riêng tuần cao điểm 8/3 tại TP.Hồ Chí Minh, với khoảng 500.000 bó hoa được tiêu thụ, lượng nhựa thải bỏ ước tính từ 15–35 tấn trong vòng một tuần. Đây là minh chứng rõ ràng cho “lỗ hổng định giá cấu trúc” trong ngành hàng này.
Nguy cơ môi trường không chỉ nằm ở khối lượng mà còn ở độc tính. Khảo sát cho thấy nhựa PVC chiếm khoảng 2,8% thường được “ngụy trang” dưới dạng giấy kraft hoặc giỏ hoa màu nâu. Khi bị đốt trong điều kiện rác hỗn hợp, PVC có thể sinh ra dioxin và furan, những hợp chất cực độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường.
Đáng lo ngại hơn, PVC trong ngành hoa gần như không thể nhận diện bằng mắt thường, gây khó khăn cho công tác phân loại rác thủ công. Điều này làm gia tăng nguy cơ phát thải chất độc trong quá trình xử lý.
Về mặt chính sách, việc triển khai cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP vẫn còn nhiều khoảng trống trong chuỗi cung ứng hoa tươi.
Thứ nhất là vấn đề định giá vật liệu. Hiện chưa có sự phân biệt rõ ràng về nghĩa vụ tài chính giữa nhựa độc hại như PVC và các loại nhựa dễ tái chế hơn như PP. Điều này khiến doanh nghiệp thiếu động lực chuyển đổi sang vật liệu thân thiện môi trường.
Thứ hai là chuỗi nhập khẩu phi chính thức. Phần lớn phụ kiện hoa được nhập khẩu qua các thương nhân nhỏ lẻ, với thông tin polymer không đầy đủ hoặc sai lệch. Điều này khiến việc thực thi EPR gặp nhiều khó khăn, thậm chí chỉ tồn tại trên giấy tờ.
Thứ ba là “khoảng trắng pháp lý” đối với xốp cắm hoa – vật liệu chứa vi nhựa, không thể tái chế và có khả năng xâm nhập môi trường nước. Hiện nay, loại vật liệu này chưa được đưa vào bất kỳ danh mục quản lý cụ thể nào.
Trước thực trạng trên, các chuyên gia cho rằng cần một lộ trình can thiệp đồng bộ từ tiêu dùng đến chính sách. Trong ngắn hạn, các tổ chức tiêu dùng lớn như doanh nghiệp, khách sạn hay cơ quan nhà nước có thể đóng vai trò tiên phong bằng cách yêu cầu nhà cung cấp loại bỏ nhựa PVC, thay thế bằng vật liệu tự nhiên như vải hoặc cotton.
Ở cấp độ quản lý, cần bổ sung quy định bắt buộc khai báo thành phần polymer đối với phụ kiện hoa nhập khẩu. Đây là cơ sở để áp dụng chính xác các công cụ kinh tế như thuế môi trường hoặc phí EPR, tương tự cách mà Liên minh châu Âu đang triển khai. Về trung hạn, cần đưa xốp cắm hoa vào danh mục chất thải cần kiểm soát trong hệ thống quy chuẩn quốc gia. Đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá đầy đủ tác động môi trường của loại vật liệu này tại Việt Nam.
Rõ ràng, nếu không sớm lấp đầy các “lỗ hổng” chính sách và thị trường, ngành hoa tươi dù mang lại giá trị kinh tế lớn vẫn sẽ tiếp tục tạo ra áp lực môi trường ngày càng gia tăng. Khi đó, cái giá phải trả sẽ không chỉ nằm ở ngân sách, mà còn ở chất lượng sống của toàn xã hội.
Liên quan tới rác thải nguy hại, hiện nay Việt Nam đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2025/BNNMT về ngưỡng chất thải nguy hại. Quy chuẩn này quy định các ngưỡng để phân định chất thải nguy hại và chất thải thông thường, làm cơ sở cho quản lý, thu gom và xử lý phù hợp. Quy chuẩn này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo đó, chất thải được xác định là nguy hại khi có một hoặc nhiều đặc tính như: dễ cháy, ăn mòn, phản ứng mạnh, độc tính cao hoặc chứa các thành phần nguy hiểm vượt ngưỡng cho phép. QCVN đưa ra danh mục các thông số kỹ thuật cụ thể (kim loại nặng, hợp chất hữu cơ độc hại, hóa chất bền vững…) kèm theo giá trị giới hạn để làm căn cứ phân loại.
Quy chuẩn cũng yêu cầu việc lấy mẫu, phân tích phải tuân thủ phương pháp tiêu chuẩn nhằm đảm bảo tính chính xác và đồng nhất. Trong trường hợp chất thải có thành phần phức tạp hoặc chưa xác định rõ, phải thực hiện đánh giá bổ sung trước khi quyết định phương án quản lý.
Việc phân định đúng ngưỡng chất thải nguy hại theo QCVN 07:2025/BNNMT là cơ sở quan trọng để áp dụng các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt hơn, góp phần giảm thiểu rủi ro đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Tương tự, tại Nghị quyết 122/NQ-CP ngày 08/05/2025, Chính phủ chủ trương tập trung, ưu tiên nguồn lực để giải quyết hiệu quả các vấn đề cấp bách về môi trường, chủ động phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Theo đó, chỉ đạo xây dựng quy chuẩn kỹ thuật về tái chế chất thải.
Theo đó, cần giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải nhựa gây ra. Nghiên cứu thay thế các sản phẩm bao bì nhựa, túi nilông khó phân hủy bằng các vật liệu thân thiện môi trường, dễ phân hủy sinh học. Xây dựng lộ trình hạn chế nhập khẩu phế liệu nhựa. Tổ chức thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý hiệu quả chất thải nhựa nhằm ngăn chặn chất thải nhựa từ đất liền ra biển. Điều tra, thống kê chất thải nhựa và vì nhựa phát sinh trên phạm vi cả nước, xây dựng cơ sở dữ liệu về rác thải nhựa quốc gia. Xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện thỏa thuận toàn cầu về chất thải nhựa sau khi được thông qua.
An Dương (T/h)









