Đột phá thể chế và công nghệ để nâng cao năng suất lao động
(VietQ.vn) - Nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) được xem là động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực tái đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, NSLĐ không chỉ là thước đo hiệu quả của nền kinh tế mà còn là “chìa khóa” để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Chủ xe VinFast VF 8: ‘Cảm giác tăng tốc này chỉ xe vài tỷ mới có được’
Sức bật từ quản trị tích hợp
Cánh cửa gặp gỡ văn hóa nghệ thuật Hàn Quốc tại Việt Nam
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2024, NSLĐ của Việt Nam tăng 5,88% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây và vượt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, xét về quy mô tuyệt đối, NSLĐ của Việt Nam vẫn còn khoảng cách so với nhiều quốc gia trong khu vực, chỉ đạt khoảng 7.200 USD/lao động, tương đương khoảng 62% của Thái Lan, 41% của Malaysia và chưa bằng 1/10 Singapore.
Đến năm 2025, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động. Theo giá so sánh, NSLĐ tăng 6,83%. Dù vậy, để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng NSLĐ khoảng 7,5 - 8,5% mỗi năm trong thời gian dài.

Cùng với quyết tâm tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2025-2030 là mục tiêu đạt tốc độ tăng NSLĐ khoảng 8,5%/năm.
Thực tế cho thấy, NSLĐ thấp đang là điểm nghẽn đối với nhiều ngành kinh tế. Chẳng hạn, ngành dệt may Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 44 tỷ USD năm 2022 nhưng giá trị gia tăng chỉ vào khoảng 20%, chủ yếu do phụ thuộc vào gia công và lao động giá rẻ. Việc nâng cao NSLĐ sẽ giúp nền kinh tế chuyển dịch từ mô hình gia công - lắp ráp sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và tri thức cao hơn như điện tử, phần mềm hay năng lượng tái tạo.
Theo đánh giá của McKinsey, nếu NSLĐ của Việt Nam tăng gấp đôi trong thập kỷ tới, xuất khẩu có thể tăng trưởng 15 - 20% mỗi năm, tạo động lực lớn cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số. NSLĐ cao cũng là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đặc biệt từ các đối tác như Mỹ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản - những thị trường ưu tiên các quốc gia có lực lượng lao động hiệu quả và chất lượng cao.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng NSLĐ đạt khoảng 8,5%/năm; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng đây là mục tiêu đầy thách thức, đòi hỏi những nỗ lực rất lớn từ cả khu vực công và tư nhân.
Trong khi đó, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhấn mạnh, tăng NSLĐ không đơn thuần là yêu cầu người lao động làm việc nhiều hơn mà là nâng cao hiệu quả tổng thể của cả nền kinh tế. Theo ông, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các nguồn lực truyền thống mà cần tạo đột phá về thể chế, đổi mới sáng tạo và mô hình quản trị.
“Cần đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện kinh tế thị trường để các nguồn lực như vốn, đất đai dịch chuyển vào những lĩnh vực có năng suất cao; đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sang các ngành có giá trị gia tăng lớn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.
Chuyên gia kinh tế - TS. Huỳnh Thanh Điền cũng cho rằng để nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, Việt Nam cần giải quyết đồng thời nhiều bài toán, trong đó có việc tăng tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân.
Theo ông, trong thu hút FDI, cần yêu cầu rõ lộ trình chuyển giao công nghệ, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, đồng thời đầu tư mạnh cho công nghiệp hỗ trợ. Việc nâng cao NSLĐ và tỷ lệ nội địa hóa không chỉ phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần củng cố nền kinh tế tự chủ, giảm phụ thuộc và nâng cao khả năng tạo ra giá trị từ tri thức và công nghệ.
“Cả hạ tầng cứng lẫn hạ tầng mềm của Việt Nam phải được đầu tư đồng bộ. Từ logistics đến hạ tầng dữ liệu đều cần vận hành thông suốt, nhanh chóng; cùng với đó là cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm… Đây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy năng suất của toàn nền kinh tế”, TS. Huỳnh Thanh Điền chia sẻ.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng gắn chặt với các mục tiêu tăng trưởng, nhiều địa phương đang xem đây là công cụ để tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao NSLĐ và mở rộng dư địa phát triển. Bên cạnh quy hoạch đầu tư, nhiều địa phương cũng bắt đầu chú trọng hơn tới quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực.
Theo Chương trình Hành động quốc gia về tăng NSLĐ, Việt Nam đặt mục tiêu đưa NSLĐ trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững, tận dụng hiệu quả các cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 3 quốc gia ASEAN dẫn đầu về tốc độ tăng NSLĐ; đồng thời tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo tăng trung bình 20% mỗi năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ đang triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy tăng NSLĐ, trong đó có việc lựa chọn một số ngành, lĩnh vực và địa phương để thí điểm chương trình nâng cao NSLĐ trước khi nhân rộng trên phạm vi toàn nền kinh tế.
Hiền Anh











