Phát triển năng lực đo lường quốc gia: Đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn
(VietQ.vn) - Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, các mô hình quản lý hiện đại cùng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với lĩnh vực đo lường. Thực tiễn cho thấy Luật Đo lường năm 2011 đã bộc lộ những khoảng trống cần được cập nhật nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, tăng cường hậu kiểm và hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền phù hợp với bối cảnh mới.
Petrovietnam ký các hợp đồng quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế
Bắc Ninh phát hiện 13 vụ vi phạm pháp luật về đo lường
Hưng Yên kiểm định phương tiện đo tại chợ dân sinh, tăng cường minh bạch đo lường
Yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động đo lường
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Chính phủ số, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công ngày càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đo lường, nhiều thông tin và dữ liệu liên quan đến phương tiện đo, kết quả kiểm định, hiệu chuẩn và thử nghiệm vẫn quản lý phân tán, chưa được kết nối và khai thác hiệu quả trên môi trường số. Điều này làm hạn chế khả năng tổng hợp, phân tích và chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như hoạt động của doanh nghiệp.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động đo lường, bao gồm xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các công cụ khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát và cung cấp dịch vụ công. Việc chuyển đổi số trong lĩnh vực đo lường sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và tăng cường tính minh bạch của thị trường.
Sự phát triển nhanh của công nghệ số, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo và hệ thống dữ liệu lớn đã làm xuất hiện nhiều loại phương tiện đo thông minh, phương thức đo tự động, đo liên tục và đo từ xa cũng như kinh doanh phương tiện đo trên nền tảng thương mại điện tử. Phép đo không còn gắn hoàn toàn với phương tiện đo vật lý truyền thống mà được thực hiện thông qua phần mềm, thuật toán và hệ thống kết nối mạng.
Trong thực tiễn, nhiều kết quả đo được tạo lập, xử lý và truyền dẫn tự động, làm căn cứ cho thanh toán, quyết toán và quản lý. Trong khi đó, Luật Đo lường năm 2011 chưa có quy định đầy đủ điều chỉnh đối với hệ thống đo có tích hợp phần mềm đo lường, thuật toán đo, dữ liệu đo lường cũng như yêu cầu về an toàn, toàn vẹn, truy xuất và trách nhiệm quản lý dữ liệu đo trong môi trường số.
Riêng đối với vấn đề quản lý phương tiện đo kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, đây là vấn đề sẽ được xử lý ở cấp độ văn bản dưới luật (nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết phạm vi, mức độ quản lý theo rủi ro), phù hợp với định hướng luật khung của dự thảo Luật; kiến nghị giao Chính phủ quy định chi tiết, không đề xuất bổ sung điều khoản cụ thể vào Luật.
Yêu cầu đầu tư phát triển hệ thống chuẩn đo lường và phát huy vai trò doanh nghiệp tham gia xây dựng năng lực hệ thống đo lường quốc gia
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và các ngành công nghiệp công nghệ cao phát triển nhanh, nhu cầu về năng lực đo lường chính xác, tin cậy và có khả năng truy xuất chuẩn quốc tế ngày càng gia tăng. Nhiều lĩnh vực mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu mới và sản xuất thông minh đòi hỏi hệ thống đo lường có độ chính xác cao và được kết nối với hệ thống chuẩn đo lường quốc tế.
Tuy nhiên, hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và năng lực đo lường của Việt Nam trong một số lĩnh vực công nghệ mới còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và công nghiệp. Việc đầu tư phát triển chuẩn đo lường và năng lực đo lường hiện nay chủ yếu dựa vào nguồn lực của Nhà nước, trong khi cơ chế huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức khoa học và công nghệ, còn chưa đầy đủ.
Hạ tầng kỹ thuật đo lường là một phần cấu thành của Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI). Luật hiện hành chưa ghi nhận rõ vị trí này, dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý cho việc xác định ưu tiên đầu tư, huy động nguồn lực và xây dựng chiến lược phát triển tổng thể hạ tầng đo lường. Đây là khoảng trống cần được khắc phục để tạo liên kết với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (sửa đổi) và định hướng phát triển NQI quốc gia.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia theo hướng hiện đại, đồng thời định hướng đầu tư phát triển năng lực đo lường trong các lĩnh vực công nghệ mới và các ngành kinh tế chiến lược, phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp quốc gia. Việc tăng cường năng lực đo lường sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa học - công nghệ, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, hoạt động đo lường có vai trò quan trọng trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, công bằng trong giao dịch thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thực tiễn cho thấy việc kiểm soát đo lường không chỉ dừng lại ở kiểm định phương tiện đo mà còn cần được thực hiện thông qua hệ thống quản lý đo lường nội bộ tại doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, chương trình bảo đảm đo lường tại doanh nghiệp đã được triển khai trong thời gian qua nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập hệ thống quản lý đo lường và nâng cao độ chính xác của các phép đo trong sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, việc triển khai chương trình này vẫn còn hạn chế, chưa được áp dụng rộng rãi và chưa được quy định đầy đủ trong khuôn khổ pháp luật về đo lường.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy triển khai chương trình bảo đảm đo lường tại doanh nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý đo lường, giảm rủi ro sai lệch trong giao dịch thương mại và góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Việc sửa đổi Luật Đo lường nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia và hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp với bối cảnh mới.
Yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên nền tảng dữ liệu
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động đo lường đang dần chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm. Hiện nay, các tổ chức thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đều phải đáp ứng điều kiện như nhau, kể cả với phương tiện đo nhóm 1, chuẩn đo lường không trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2 không thuộc diện quản lý bắt buộc. Cơ chế quản lý còn mang tính tiền kiểm, chưa chuyển mạnh sang cơ chế công bố đủ năng lực và hậu kiểm đối với hoạt động mang tính thị trường, làm tăng chi phí tuân thủ và hạn chế tính linh hoạt của thị trường dịch vụ đo lường.
Xu hướng quản lý hiện đại tại nhiều quốc gia là chuyển dần sang phương thức hậu kiểm, kết hợp với ứng dụng công nghệ số và khai thác dữ liệu để giám sát, đánh giá rủi ro và kịp thời phát hiện vi phạm. Việc chuyển sang hậu kiểm chỉ bền vững khi đáp ứng đồng bộ ba điều kiện: có hệ thống nền tảng, cơ sở dữ liệu đủ năng lực phát hiện vi phạm sớm; có chế tài đủ mạnh để răn đe; tổ chức, cá nhân hiểu rõ trách nhiệm pháp lý và có năng lực tự tuân thủ. Thiếu đi bất kỳ yếu tố nào nêu trên, cơ chế hậu kiểm sẽ không thể đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đề ra. Do đó, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng chuyển đổi phương thức quản lý cần đồng bộ: xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu đo lường tập trung, tăng cường chế tài đủ mạnh và quy định rõ trách nhiệm tự chịu trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp.
Yêu cầu cập nhật mô hình phân cấp, phân quyền phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và Luật Thanh tra năm 2025
Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã, bỏ cấp huyện) và thi hành Luật Thanh tra năm 2025 tạo ra sự không tương thích căn bản với các quy định hiện hành của Luật Đo lường năm 2011. Cụ thể: Nhiều điều khoản của Luật Đo lường giao trách nhiệm kiểm tra nhà nước về đo lường cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, nay đã không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương mới; Luật Đo lường còn quy định chức năng thanh tra chuyên ngành đo lường gắn với Thanh tra Bộ KH&CN và Thanh tra Sở KH&CN, không tương thích với mô hình tổ chức cơ quan thanh tra theo Luật Thanh tra năm 2025 không còn tổ chức thanh tra chuyên ngành tại bộ, ngành như trước đây.
Yêu cầu đặt ra là phải phân biệt rõ hai chức năng: thanh tra, do cơ quan thanh tra thực hiện theo pháp luật thanh tra hiện hành; và kiểm tra nhà nước về đo lường, được phân quyền cho các bộ ngành và địa phương theo Luật Đo lường sửa đổi, với nguyên tắc "bộ, ngành quản lý chủ trì kiểm tra phép đo thuộc phạm vi được phân công". Đồng thời, phải phân quyền rõ trách nhiệm kiểm tra trực tiếp tại địa bàn cho chính quyền cấp xã, thay thế vai trò của cấp huyện trong mô hình cũ.
Yêu cầu đơn giản hóa quản lý hàng đóng gói sẵn phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn thị trường
Mô hình phân loại hàng đóng gói sẵn thành nhóm 1 và nhóm 2 với hai cơ chế quản lý khác nhau đã bộc lộ nhiều bất cập: Danh mục hàng đóng gói sẵn nhóm 2 chưa được ban hành do các nước ASEAN và OIML chưa thống nhất - khiến toàn bộ hệ thống đang vận hành theo cơ chế tự nguyện, mâu thuẫn với mục tiêu quản lý bắt buộc ban đầu; Số lượng cơ sở tham gia cơ chế dấu định lượng tăng rất chậm qua các giai đoạn (2015-2017: 30 cơ sở; 2018-2021: 46 cơ sở; 2022-2025: thêm 01 cơ sở), cho thấy cơ chế này không phát huy hiệu quả; Kết quả kiểm tra giai đoạn 2022-2025 cho thấy không phát hiện vấn đề nghiêm trọng phải xử phạt, khẳng định việc kiểm soát lượng hàng đóng gói sẵn hiệu quả hơn qua công tác hậu kiểm trực tiếp chứ không qua chứng nhận dấu định lượng.
Xu hướng quốc tế theo khuyến nghị của OIML (R 87 về lượng sản phẩm trong bao bì và R 79 về yêu cầu ghi nhãn) là áp dụng cơ chế thống nhất cho tất cả hàng đóng gói sẵn: tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự công bố và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin định lượng; cơ quan nhà nước hậu kiểm theo rủi ro và áp dụng chế tài đủ mạnh khi phát hiện vi phạm, không phân loại nhóm hàng đóng gói sẵn gây phức tạp cho tổ chức, doanh nghiệp hiểu và tuân thủ quy định. Đây là căn cứ để xem xét đơn giản hóa cơ chế quản lý hàng đóng gói sẵn về một chế độ thống nhất.
Trương Vân











