Tạo nền tảng hạ tầng cho công nghiệp hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng
(VietQ.vn) - Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, nếu không tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng khu công nghiệp chuyên sâu, vốn và liên kết thị trường, mục tiêu nâng cấp vị thế sẽ tiếp tục gặp thách thức.
Tiêu chuẩn định hướng đánh giá sợi trong điều tra pháp y
Khuôn khổ pháp lý về kinh doanh có trách nhiệm đối với các tập đoàn: Kinh nghiệm của Pháp và gợi mở cho Việt Nam
Boulevard Prime tăng nhiệt nhờ hiệu ứng VnExpress Marathon và chính sách ‘5 năm không lo lãi suất’
Sau nhiều năm phát triển, CNHT đã có bước tiến nhất định nhưng vẫn chưa thoát khỏi vai trò gia công giá trị thấp. Theo ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp CNHT TP.Hà Nội (HANSIBA), cả nước hiện có khoảng 6.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Dù đang chuyển dịch từ gia công đơn giản sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, phần lớn vẫn chỉ ở mức trung bình thấp so với các quốc gia trong khu vực.
Thực tế cho thấy doanh nghiệp CNHT trong nước chủ yếu đảm nhận các khâu lắp ráp, sản xuất linh kiện cơ bản. Khả năng tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế do năng lực nội tại còn yếu, từ công nghệ, chất lượng sản phẩm đến nguồn nhân lực. Liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu còn lỏng lẻo, trong khi môi trường chính sách chưa đủ mạnh để tạo đột phá.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hồng Phong, Chủ tịch Công ty TNHH Dụng cụ An Mi, cho rằng phần lớn doanh nghiệp trong ngành vẫn ở vị thế thấp, thiếu ổn định về tài chính, công nghệ và nhân lực. Việc triển khai nhà máy thông minh hay chuyển đổi số mới chỉ ở giai đoạn đầu, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ các chuỗi sản xuất toàn cầu.

Các doanh nghiệp CNHT Việt Nam đã có những bước tiến nhất định.
Trong bối cảnh đó, vấn đề không còn nằm ở từng doanh nghiệp riêng lẻ mà đòi hỏi cách tiếp cận mang tính hệ thống. Trong đó, hạ tầng khu công nghiệp chuyên sâu cho CNHT được xem là “bệ đỡ” quan trọng, giúp doanh nghiệp tiếp cận đồng bộ đất đai, nhà xưởng, công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ.
Theo ông Nguyễn Vân, việc phát triển các khu công nghiệp chuyên biệt cho CNHT tại cả ba miền là cần thiết, đặc biệt để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sản xuất. Khi có hạ tầng phù hợp, doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí đầu tư ban đầu mà còn thuận lợi hơn trong việc kết nối với các đối tác trong chuỗi cung ứng.
Một ví dụ là khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (HANSSIP) do N&G Group đầu tư, với giai đoạn 1 đã được lấp đầy 100%. Đây là khu công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam định hướng phát triển CNHT công nghệ cao. Mô hình này không chỉ cung cấp mặt bằng sản xuất mà còn gắn với hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp, từ kết nối cung - cầu, chuyển giao công nghệ đến đào tạo nhân lực và hỗ trợ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Điểm đáng chú ý là HANSSIP hướng tới hình thành cụm liên kết ngành, nơi các doanh nghiệp không hoạt động riêng lẻ mà tham gia vào chuỗi sản xuất có tính bổ trợ lẫn nhau. Mô hình này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu linh kiện và từng bước nâng cao mức độ tham gia của doanh nghiệp CNHT Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, để các mô hình như vậy phát huy hiệu quả trên diện rộng, rào cản về chính sách và nguồn lực vẫn cần được tiếp tục tháo gỡ. Nhiều chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư, tạo điều kiện tiếp cận đất đai và tín dụng, đồng thời tăng cường kết nối giữa khu công nghiệp với tập đoàn FDI để tạo đầu ra ổn định cho doanh nghiệp nội địa. Đáng lưu ý, doanh nghiệp CNHT rất cần môi trường chính sách ổn định. Theo ông Nguyễn Vân, nếu có điều chỉnh, chính sách cần theo hướng tích cực và hạn chế hồi tố, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các kế hoạch đầu tư dài hạn.
Không chỉ hạ tầng, bài toán vốn và thị trường vẫn là yếu tố quan trọng. Đại diện HANSIBA kiến nghị cần tăng cường các nguồn vốn ưu đãi từ tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư, đồng thời cụ thể hóa chính sách từ Nghị quyết 57-NQ/TW để hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ở tầm chiến lược, CNHT Việt Nam cũng cần được định vị lại theo hướng chuyển từ sản xuất linh kiện rời rạc sang cung ứng cụm linh kiện và hệ thống có hàm lượng công nghệ cao. Theo ông Nguyễn Hồng Phong, cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp đã làm chủ công nghệ lõi, đồng thời xây dựng lực lượng doanh nghiệp mũi nhọn có khả năng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn.
Một điểm cần lưu ý khác là tăng cường liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT FPT cho rằng cần thúc đẩy sự phối hợp giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và khu vực FDI theo hướng cùng hợp tác, cùng phát triển và cùng chia sẻ lợi ích.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, đề xuất cần có cơ chế để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào các dự án đầu tư công cũng như chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao năng lực toàn hệ thống. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, CNHT được kỳ vọng là nền tảng nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc phát triển hạ tầng khu công nghiệp chuyên sâu, cùng với hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường nguồn lực tài chính và thúc đẩy liên kết doanh nghiệp cần được triển khai đồng bộ và hiệu quả.
Hiền Anh









