Tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh
(VietQ.vn) - Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, thời gian đầu tư dài và mức độ rủi ro cao hơn so với mô hình truyền thống. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chính sách tín dụng hiện nay vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp với đặc thù của nông nghiệp số, nông nghiệp xanh.
Thông tin được bà Phạm Thị Thanh Huyền- Tổng biên tập Báo Đại biểu Nhân dân nhấn mạnh tại hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh” chiều 24/4/2026 tại Hà Nội. Hội thảo có sự tham gia của các Đại biểu quốc hội, đại diện các bộ, ngành, chuyên gia, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.

Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh”
Chính sách tín dụng - trụ cột quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi
Theo bà Huyền, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, thời gian đầu tư dài và mức độ rủi ro cao hơn so với mô hình truyền thống. trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu, nông nghiệp Việt Nam cần một dòng vốn đủ lớn, đủ dài hạn và có cơ chế phù hợp để thúc đẩy quá trình chuyển đổi thực chất. Do đó, hoàn thiện chính sách tín dụng được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi.
“Tín dụng không chỉ là kênh cung ứng vốn, mà còn là công cụ quan trọng định hướng dòng vốn, góp phần dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững”- Tổng biên tập Báo Đại biểu Nhân dân nhấn mạnh.
Những năm qua, tín dụng ngân hàng đã được ưu tiên đáng kể cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nhiều chương trình tín dụng ưu đãi được triển khai, hướng tới nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch và các chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
Đến đầu năm 2026, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm trước, chiếm trên 22% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, trực tiếp hỗ trợ hơn 14,6 triệu khách hàng trên cả nước. Tín dụng xanh cũng ghi nhận đà tăng trưởng tích cực, đạt gần 780 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh.

Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Tổng biên tập Báo Đại biểu Nhân dân.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, chính sách tín dụng hiện nay vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp với đặc thù của nông nghiệp số, nông nghiệp xanh, như tiêu chí xác định dự án xanh còn thiếu thống nhất; cơ chế lãi suất, thời hạn vay chưa gắn chặt với chu kỳ sản xuất; các công cụ bảo lãnh, bảo hiểm và chia sẻ rủi ro còn hạn chế.
Ông Tạ Đình Thi- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội- cho rằng, tín dụng có tác động rất lớn trong quá trình chuyển đổi và phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp xanh. Tuy nhiên, hiện vẫn còn có những nút thắt từ thể chế chính sách, thủ tục hành chính và sự sẵn sàng cung ứng, đảm bảo tín dụng của ngân hàng.
Gỡ rào cản tín dụng cho nông nghiệp
Đại diện doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Long- Giám đốc Công ty Cổ phần Nhật Long- doanh nghiệp hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực thủy sản tại Quảng Ninh- cho rằng, nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập sâu rộng, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị đã trở thành xu thế tất yếu. Trong bối cảnh đó, tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ là một công cụ tài chính, mà còn là một cơ chế dẫn dắt toàn bộ quá trình tổ chức lại sản xuất,
Tuy nhiên, theo ông Long, một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất của mô hình này chính là vấn đề tiếp cận vốn, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp.
Ông Long phân tích, tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp là hình thức cấp vốn dựa trên mối liên kết giữa các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Thay vì cho vay riêng lẻ từng hộ nông dân hay từng doanh nghiệp, tổ chức tín dụng xem xét toàn bộ chuỗi để đánh giá rủi ro và khả năng hoàn trả vốn.
“Trong mô hình này, doanh nghiệp thường đóng vai trò “hạt nhân”, liên kết với nông dân, hợp tác xã và các đối tác khác thông qua hợp đồng sản xuất – tiêu thụ, quy trình sản xuất”- ông Long nói.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, doanh nghiệp cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi tham gia tín dụng theo chuỗi giá trị. Đó là yêu cầu về năng lực quản trị. Doanh nghiệp phải đủ khả năng tổ chức sản xuất, quản lý hợp đồng với nông dân, nâng cao năng lực dự báo và quản trị rủi ro.
Ngoài ra, tính minh bạch và kỷ luật trong liên kết chuỗi vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Trong thực tế, không ít trường hợp nông dân “bẻ lái” khi giá thị trường cao hơn hợp đồng, hoặc doanh nghiệp chậm thanh toán cho người sản xuất.
Để mô hình tín dụng theo chuỗi phát huy hiệu quả, các chuyên gia cho rằng, cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số; Nhà nước hoàn thiện khung pháp lý; còn các tổ chức tín dụng cần đổi mới phương thức thẩm định, thiết kế sản phẩm phù hợp với đặc thù nông nghiệp.
Doanh nghiệp cũng mong muốn các ngân hàng cần chuyển từ tư duy "vay dựa trên tài sản thế chấp" sang "vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả phương án sản xuất". Điều này đặc biệt quan trọng trong các ngành như nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi hay trồng trọt nơi chi phí đầu tư ban đầu lớn và chu kỳ sản xuất dài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro- ông Long chia sẻ.

Ngành nuôi trồng thủy sản chi phí đầu tư ban đầu lớn và chu kỳ sản xuất dài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Ảnh minh họa
Cần giải pháp tài chính toàn diện
Ông Nguyễn Quang Ngọc- Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Agribank cho biết, là Ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ lực trong lĩnh vực “Tam nông”, Agribank là đơn vị tiên phong dẫn dắt dòng vốn tín dụng và các giải pháp tài chính toàn diện khu vực nông thôn.
Hiện dư nợ nông nghiệp, nông thôn của Agribank là 1,26 triệu tỷ đồng, đã tăng gấp 2,5 lần so với thời điểm năm 2015, chiếm khoảng 64% tổng dư nợ. Agribank đang phục vụ khoảng 2,7 triệu khách hàng vay vốn, trong đó trên 90% là khách hàng cá nhân thuộc khu vực nông thôn.
Mặc dù đang chiếm thị phần lớn nhất về tín dụng tam nông, song ông Ngọc cho rằng, giải quyết bài toán vốn cho khu vực nông thôn không chỉ bằng tín dụng ngân hàng mà còn phải cần để tổng thể các giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện.
Tài chính toàn diện là cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản (thanh toán, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) đến mọi người dân, với chi phí hợp lý. Hiện nay, Tài chính toàn diện gắn chặt với tăng trưởng xanh, định hướng vốn vào các mô hình sản xuất hiệu quả và giảm phát thải. Tài chính toàn diện đưa ngân hàng đến gần người dân hơn, giúp người dân trở thành một chủ thể tài chính thực sự trong nền kinh tế.
“Để đưa ngân hàng đến gần khách hàng hơn, ngân hàng Agribank đang hiện đại hạ tầng công nghệ và dữ liệu số; thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và thúc đẩy tín dụng xanh”- ông Ngọc cho hay.
Là đơn vị tham gia bảo hiểm cho lĩnh vực nông nghiệp xanh, nông nghiệp số, ông Lê Đình Huy- Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank (ABIC)- cho biết, một trong những rào cản lớn nhất với nông nghiệp số và nông nghiệp xanh là rủi ro- yếu tố khiến cả người nông dân và tổ chức tín dụng đều thận trọng trong quyết định đầu tư và cấp vốn. Nếu không có công cụ quản trị rủi ro hiệu quả, thì dòng vốn tín dụng sẽ khó có thể phát huy hết vai trò dẫn dắt chuyển đổi.
Chính vì vậy, bảo vệ người nông dân trước rủi ro chính là nền tảng để chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả.
“Đặc thù của sản xuất nông nghiệp là luôn đối mặt với rủi ro thiên tai, dịch bệnh– những yếu tố đang trở nên khốc liệt hơn do biến đổi khí hậu cực đoan.
Để dòng vốn tín dụng có thể tự tin chảy vào các dự án nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, chúng ta không chỉ cần những chính sách ưu đãi về lãi suất mà cần một cơ chế bảo vệ vốn hữu hiệu”- ông Huy khẳng định.
Theo ông Huy, quy định cấm gắn bán sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc với dịch vụ ngân hàng trong Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (Khoản 5, Điều 15) hiện nay nếu áp dụng cứng nhắc sẽ gây khó khăn cho việc hình thành liên kết Chuỗi giữa Tín dụng – Bảo hiểm – Hộ nông dân, làm các Hợp đồng liên kết – Hợp đồng bảo hiểm – Hợp đồng tín dụng không có sự liên kết chặt chẽ.
Ngoài ra, các quy định về hỗ trợ phí bảo hiểm, đối tượng được hỗ trợ, địa bàn triển khai... hiện nay còn nhiều bất cập, chưa thực sự hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư dài hạn do rủi ro thiên tai, bệnh dịch trong nông nghiệp vượt ngưỡng chịu đựng. Chưa kể, dữ liệu tổng hợp về thời tiết, bệnh dịch, năng suất, lịch sử giá cả của hàng hóa nông sản, lịch sử tổn thất,…chưa có đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa được chia sẻ làm khó khăn trong việc nghiên cứu thiết kế định phí các sản phẩm Bảo hiểm nông nghiệp.
Ông Huy cho rằng, cần chuyển đổi tư duy chính sách: từ tư duy bảo hiểm là "hỗ trợ an sinh" sang "công cụ quản trị chuỗi giá trị". Bởi khi khi bảo hiểm được đặt đúng vị trí là một công cụ quản trị rủi ro chuyên nghiệp, nó sẽ trở thành "đòn bẩy" mạnh mẽ nhất để đưa nông nghiệp Việt Nam vươn tầm hiện đại, xanh và bền vững.
Lê Kim Liên









