Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi): Kiểm soát nguy cơ xuyên suốt, tăng hậu kiểm
(VietQ.vn) - Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) định hướng chuyển mạnh sang kiểm soát nguy cơ xuyên suốt chuỗi cung ứng, tăng hậu kiểm, số hóa dữ liệu và đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Hà Tĩnh đẩy mạnh số hóa truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin sản phẩm
Đẩy mạnh áp dụng mã số mã vạch, truy xuất nguồn gốc để phát triển thị trường nội địa
Kiểm soát từ nơi sản xuất đến bàn ăn
Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, sự phát triển của chuỗi cung ứng, thương mại điện tử và các phương thức sản xuất, kinh doanh mới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý.
Thực tế, tình trạng thực phẩm giả, kém chất lượng liên tiếp bị phát hiện cho thấy những hạn chế không chỉ ở khâu cấp phép mà còn trong giám sát sau lưu thông. Hậu kiểm chưa đủ mạnh, dữ liệu thiếu liên thông và trách nhiệm quản lý còn phân tán có thể tạo khoảng trống cho vi phạm.
Bên cạnh đó, phương thức quản lý vẫn còn nặng về tiền kiểm, trong khi đánh giá nguy cơ, quản lý rủi ro, truy xuất nguồn gốc và chia sẻ dữ liệu chưa đồng bộ. Vi phạm trong kinh doanh thực phẩm, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử, ngày càng phức tạp, đặt ra yêu cầu phải chuyển từ cách quản lý theo từng khâu sang kiểm soát chủ động, xuyên suốt chuỗi.
Từ những yêu cầu thực tiễn đó, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm được đặt ra nhằm hoàn thiện phương thức quản lý theo hướng hiện đại và phù hợp hơn với thực tế. Theo Bộ Y tế, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới chuyển từ quản lý theo từng công đoạn sang kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, đồng thời tăng cường hậu kiểm dựa trên đánh giá nguy cơ, quản lý rủi ro và ứng dụng công nghệ số.

Kiểm soát an toàn thực phẩm cần được thực hiện xuyên suốt từ sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu dùng. Ảnh minh họa
Điểm đáng chú ý là việc kiểm soát an toàn thực phẩm được đặt ra ngay từ khâu sản xuất ban đầu, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ, sơ chế, chế biến, phân phối, kinh doanh và lưu thông đến người tiêu dùng. Mỗi khâu được đánh giá theo nguy cơ để lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp.
Cách tiếp cận này gắn chặt với truy xuất nguồn gốc. Khi xảy ra sự cố, cơ quan chức năng có thể xác định thực phẩm đến từ đâu, đã qua những công đoạn và cơ sở nào, từ đó nhanh chóng khoanh vùng, cảnh báo và xử lý.
Tăng hậu kiểm, kiểm soát thực phẩm trên thị trường
Một thay đổi đáng chú ý khác là dự thảo hướng tới quản lý thực phẩm theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng một cách quản lý giống nhau cho mọi sản phẩm. Theo đó, thực phẩm sẽ được phân nhóm theo mức độ rủi ro để áp dụng biện pháp quản lý tương ứng. Dự thảo đưa ra các nhóm biện pháp gồm quản lý sản phẩm, quản lý cơ sở, quản lý sự cố an toàn thực phẩm và hậu kiểm. Cùng với đó là tăng cường lấy mẫu, kiểm tra hồ sơ và giám sát thực phẩm đang lưu thông trên thị trường.
Việc kiểm soát các chỉ tiêu an toàn cũng được đặt trong hệ thống quy chuẩn kỹ thuật. Chẳng hạn, QCVN 8-2:2011/BYT quy định giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm, trong khi QCVN 8-3:2012/BYT quy định về ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm. Đây là những căn cứ kỹ thuật quan trọng để đánh giá một số nguy cơ đối với thực phẩm.
Bộ Y tế cũng đang triển khai kế hoạch rà soát, sửa đổi, bổ sung 37 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm thực phẩm và mức giới hạn an toàn, đồng thời hoàn thiện cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm. Như vậy, hướng quản lý mới không có nghĩa loại bỏ hoàn toàn tiền kiểm mà là kết hợp quản lý trước khi lưu hành với hậu kiểm dựa trên đánh giá nguy cơ, nhằm giảm các thủ tục không cần thiết nhưng vẫn kiểm soát được những nhóm sản phẩm có nguy cơ cao.
Số hóa để truy xuất nguồn gốc và cảnh báo nhanh
Một nền tảng quan trọng khác của dự thảo là xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu an toàn thực phẩm liên thông từ Trung ương đến địa phương.
Theo định hướng này, dữ liệu sẽ phục vụ nhiều hoạt động như đăng ký lưu hành, công bố sản phẩm, xuất nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá nguy cơ và cảnh báo sự cố. Khi dữ liệu được liên thông, việc phát hiện và xử lý một sản phẩm không an toàn có thể được thực hiện nhanh hơn, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý xác định các mắt xích liên quan trong chuỗi cung ứng.
Đây cũng là cơ sở để tăng trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong chuỗi. Việc một sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, có thông tin về quá trình sản xuất và lưu thông sẽ giúp cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong hậu kiểm, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp chứng minh sự tuân thủ khi có yêu cầu.
Từ góc độ thực tiễn, yêu cầu truy xuất nguồn gốc sẽ khó đạt hiệu quả nếu chỉ thực hiện ở khâu cuối cùng. Muốn kiểm soát đến tận nơi sản xuất cần tổ chức lại chuỗi cung ứng, tăng liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và đơn vị phân phối, đồng thời có công cụ ghi chép, quản lý dữ liệu phù hợp với điều kiện thực tế.
Đối với các nhóm thực phẩm có nguy cơ cao, việc kết hợp giữa vùng sản xuất được kiểm soát, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và hậu kiểm sẽ tạo thành một chuỗi bảo đảm an toàn thay vì chỉ dựa vào kiểm tra sản phẩm khi đã đưa ra thị trường.
Ngày 28/8/2026, Chính phủ đã cho ý kiến đối với dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đồng thời yêu cầu tiếp tục hoàn thiện theo hướng quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, rà soát thủ tục công bố và kiểm nghiệm, bổ sung quy định phù hợp đối với kinh doanh thực phẩm trên môi trường số và nâng cao hiệu quả cảnh báo, thu hồi thực phẩm không an toàn.
Những định hướng này cho thấy quản lý an toàn thực phẩm đang được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: ngăn ngừa nguy cơ từ đầu, kiểm soát xuyên suốt chuỗi, quản lý bằng dữ liệu và xử lý nhanh khi phát sinh sự cố, thay vì chủ yếu chờ vi phạm xảy ra mới kiểm tra, xử lý.
Nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm tại TCVN 5603:2023
TCVN 5603:2023 đặt trọng tâm vào phòng ngừa nguy cơ mất an toàn thực phẩm ngay từ quá trình sản xuất, chế biến. Theo đó, cơ sở thực phẩm nên áp dụng Thực hành vệ sinh tốt (GHP) nhằm hạn chế sự xuất hiện của các chất ô nhiễm trong thực phẩm và tạo nền tảng cho hệ thống HACCP hoạt động hiệu quả.
Mỗi cơ sở nên nhận diện các mối nguy có thể phát sinh từ nguyên liệu, thành phần, quá trình sản xuất, chế biến và môi trường. Tùy mức độ rủi ro, GHP được áp dụng để kiểm soát; nếu chưa đủ thì cần kết hợp các biện pháp kiểm soát bổ sung tại điểm kiểm soát tới hạn (CCP) và phải có cơ sở khoa học chứng minh hiệu quả.
Các biện pháp kiểm soát phải được giám sát, kiểm tra, xác nhận và lưu hồ sơ, đồng thời có biện pháp khắc phục khi phát hiện vấn đề. Hệ thống vệ sinh thực phẩm cũng cần được rà soát, cập nhật định kỳ hoặc khi có thay đổi về nguyên liệu, quy trình, sản phẩm, thiết bị hay kiến thức khoa học có thể làm phát sinh nguy cơ mới.
Bên cạnh đó, tiêu chuẩn nhấn mạnh việc trao đổi thông tin giữa các bên trong chuỗi thực phẩm, từ sản xuất, chế biến đến phân phối, nhằm bảo đảm an toàn và sự phù hợp của thực phẩm trong toàn bộ chuỗi.
An Dương












