Góp ý quy định về quảng cáo sản phẩm, hàng hóa đặc biệt

author 17:03 20/05/2024

(VietQ.vn) - Trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, VCCI đã có góp ý về Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo, trong đó có quy định về quảng cáo sản phẩm, hàng hóa đặc biệt.

Quảng cáo là hoạt động xúc tiến thương mại phổ biến và hợp pháp của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số hình thức quảng cáo hiện nay có thể khiến người tiêu dùng khó phân biệt giữa nội dung quảng cáo và nội dung thông thường. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không công bằng giữa các doanh nghiệp. Luật Quảng cáo 2012 vẫn còn bỏ ngỏ và Dự thảo mới bắt đầu bổ sung một số nội dung này. Phần này đề cập đến các chế định liên quan để minh bạch hóa hoạt động quảng cáo.

Khái niệm kinh doanh dịch vụ quảng cáo chưa bao trùm các mối quan hệ trên thực tế

Theo VCCI, Điều 2.6 Luật Quảng cáo 2012 định nghĩa “Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo”.

Như vậy, Luật đang coi là có hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo nếu có mối quan hệ bằng hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo. Cách định nghĩa này vừa chưa phù hợp vì không có quy định nào xác định như thế nào được coi là hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo, vừa quá hẹp và không bao trùm hết thực tế đời sống. Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể thực hiện tài trợ hoặc chi trả một lợi ích vật chất khác (sử dụng sản phẩm có giá trị lớn miễn phí, voucher mua sắm…) – được sử dụng trong nhiều loại hình quảng cáo như báo chí, thông qua người có tầm ảnh hưởng. Nếu định nghĩa hoạt động kinh doanh quảng cáo không mang tính bao trùm các mối quan hệ có thể diễn ra trong thực tế, quy định minh bạch hoá sẽ khó phát huy tác dụng khi các bên dễ dàng có thể tìm ra cách lách luật.

Do vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi quy định theo hướng người cung cấp dịch vụ quảng cáo khi thực hiện các hoạt động quảng cáo và nhận được lợi ích từ người quảng cáo gồm lợi ích tài chính (được trả tiền để quảng cáo, được sử dụng sản phẩm/dịch vụ miễn phí hay có giảm giá), các lợi ích vật chất khác hoặc có mối quan hệ với người quảng cáo gồm quan hệ lao động (là người lao động của người quảng cáo), quan hệ gia đình (là người có quan hệ gia đình với người quảng cáo).

Định vị vai trò của cá nhân thực hiện hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội

Điều 1.8 Dự thảo (sửa đổi Điều 2.8 Luật Quảng cáo 2012) đang xác định người trực tiếp đưa các sản phẩm quảng cáo đến công chúng thông qua hoạt động của mình trên mạng xã hội là người chuyển tải sản phẩm quảng cáo. Quy định này cần cân nhắc lại vì một số lý do sau đây:

(1) Không phù hợp với thực tế hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội. Hoạt động quảng cáo của cá nhân thực hiện hoạt động quảng cáo có thể chia làm hai loại:

Trường hợp 1: nội dung quảng cáo sản phẩm do người quảng cáo soạn thảo, đặt hàng; các cá nhân hoạt động quảng cáo thực hiện việc chuyển tải (chẳng hạn: chụp ảnh cùng sản phẩm). Khi đó, các cá nhân này không kiểm soát nội dung quảng cáo, do đó hoạt động tương tự như người chuyển tải sản phẩm theo Luật Quảng cáo 2012. Cũng vì thế, trong trường hợp này, các cá nhân này cũng không thể và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tại Điều 15a Dự thảo.

Trường hợp 2: nội dung quảng cáo sản phẩm do các cá nhân này tự sản xuất (ví dụ, sản xuất video có nội dung giới thiệu sản phẩm). Khi đó, các cá nhân này có khả năng kiểm soát nội dung quảng cáo. Trường hợp này, các cá nhân này hoạt động tương tự như người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và là đối tượng phù hợp để áp dụng các nghĩa vụ pháp lý tại Điều 15a Dự thảo.

(2) Việc xếp cá nhân thực hiện quảng cáo trên mạng chung nhóm với người chuyển tải quảng cáo “truyền thống” (người mặc, treo, gắn, dán, vẽ… quảng cáo lên người) là không hợp lý, tạo ra các nghĩa vụ pháp lý không tương xứng. Cùng với việc bổ sung vào Điều 2.8 Luật, Dự thảo còn bổ sung Điều 15a về trách nhiệm của người truyền tải sản phẩm quảng cáo. Các trách nhiệm này không phù hợp với người chuyển tải sản phẩm “truyền thống” (người thể hiện quảng cáo thông qua mặc, treo, gắn, dán, vẽ…) vì những người này không có đủ khả năng và điều kiện kiểm tra các tài liệu quảng cáo hay chịu trách nhiệm về nội dung quảng cáo được.

Từ các phân tích trên, đề nghị cơ quan soạn thảo bỏ quy định này. Thay vào đó cần bổ sung quy định về người thực hiện hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội, theo đó phân thành hai nhóm như trên. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động quảng cáo, người có tầm ảnh hưởng sẽ chịu các trách nhiệm pháp lý tương ứng. Ngoài những nghĩa vụ chung, bổ sung quy định riêng về trách nhiệm của cá nhân hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội (như phân tích ở Mục 3 dưới đây). Nghĩa vụ của người chuyển tải quảng cáo vẫn sẽ thực hiện theo quy định tại Luật Quảng cáo 2012.

 Ảnh minh hoạ

Trách nhiệm của cá nhân thực hiện hoạt động quảng cáo trên mạng

Như đã phân tích ở trên, quy định tại Điều 15a Dự thảo được suy đoán nhằm bổ sung trách nhiệm cho cá nhân thực hiện hoạt động quảng cáo trên mạng. Mục này sẽ phân tích về sự phù hợp, tính khả thi của các nghĩa vụ này.

Điều 15a.4 Dự thảo quy định các cá nhân này phải chịu trách nhiệm trực tiếp về nội dung quảng cáo liên quan đến tính năng, công dụng, tác dụng của sản phẩm. Quy định này cần được xem xét lại vì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mới là chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Cá nhân hoạt động quảng cáo trên mạng chỉ là người chuyển tải thông điệp của nhãn hàng đến người tiêu dùng. Họ sử dụng tài liệu, thông tin mà doanh nghiệp cung cấp để tạo ra các sản phẩm quảng cáo và chuyển tải đến người tiêu dùng. Các cá nhân này không có đủ điều kiện và năng lực để kiểm chứng độ chính xác trong các thông tin được cung cấp (trừ một số trường hợp hãn hữu có thể thực hiện qua thử nghiệm đơn lẻ, như thử nghiệm trực tiếp trên da của một người)

Ví dụ một sản phẩm ô được quảng cáo có tính năng ngăn tia UV. Doanh nghiệp mới là chủ thể có trách nhiệm đảm bảo rằng sản phẩm có khả năng này. Các KOC không thể có năng lực, chi phí để thực hiện các bài kiểm nghiệm tính năng này trước khi nhận quảng cáo được.

Dù vậy, không thể phủ nhận rằng có tình trạng KOL, KOC quảng cáo không đúng về tính năng, công dụng sản phẩm, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, chẳng hạn như quảng cáo thực phẩm chức năng nhưng nói như có tác dụng chữa khỏi bệnh. Việc quy định trách nhiệm pháp lý của các cá nhân này là cần thiết nhưng cần phải phân hóa trách nhiệm cụ thể giữa các chủ thể liên quan đến hoạt động quảng cáo.

Như đã trình bày ở trên, các cá nhân này là người chịu trách nhiệm chuyển tải thông điệp của nhãn hàng đến người tiêu dùng. Họ phải phụ thuộc vào thông điệp chính (key messages), thông tin, tài liệu mà nhãn hàng cung cấp. Các cá nhân này chỉ phụ trách và thực hiện công việc sáng tạo về cách thức chuyển tải thông điệp đến công chúng. Vì vậy, trong hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội, trách nhiệm của các bên nên được quy định phân hóa như sau: (1) các nhãn hàng sẽ chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm (bao gồm cả công dụng, tính năng sản phẩm) và chịu trách nhiệm về nội dung, thông tin, tài liệu cung cấp cho KOL, KOC; (2) các cá nhân này có trách nhiệm phải đảm bảo sự phù hợp với các nội dung đã được doanh nghiệp cung cấp.

Từ những phân tích trên, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi trách nhiệm của người hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội theo hướng chịu trách nhiệm về nội dung quảng cáo không chính xác theo tài liệu, thông tin người quảng cáo cung cấp, hoặc không đầy đủ theo các tài liệu này đến mức gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng, tác dụng của sản phẩm cho người tiếp nhận quảng cáo.

Minh bạch hoá hoạt động quảng cáo

Theo VCCI, hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội thông qua người có tầm ảnh hưởng hiện nay ngày càng phổ biến và đang trở thành một loại hình quảng cáo ưa chuộng của các doanh nghiệp, trong đó có cả doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh. Điều 1.21 Dự thảo (bổ sung Điều 36a Luật Quảng cáo 2012) đã bước đầu quy định trách nhiệm công khai đang thực hiện hoạt động quảng cáo với người tiêu dùng.

Để minh bạch hóa hoàn toàn, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định sau (hoặc có thể cân nhắc giao cho văn bản quy định chi tiết): Trách nhiệm công khai: thông báo công khai về việc thực hiện quảng cáo với người tiêu dùng khi có mối quan hệ với người quảng cáo như quan hệ tài chính, quan hệ lao động, quan hệ gia đình (tương tự như góp ý ở Mục 1 trên);

Cách thức thực hiện thông báo: ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu và dễ tiếp cận, chẳng hạn như tránh để thông tin ở phần xem thêm (see more) hoặc dẫn người xem đến một trang khác thông qua một đường liên kết (link); Thời điểm thông báo: trước hoặc tại thời điểm quảng cáo tiếp cận người dùng; Không được quảng cáo về sản phẩm yêu cầu bằng chứng khoa học (ví dụ: thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung) trong khi người quảng cáo không có bằng chứng;

Ngoài ra, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc sửa đổi các quy định sau:

Một, Điều 36a.2 Dự thảo yêu cầu phải có xác nhận của doanh nghiệp vào nội dung quảng cáo. Quy định này được suy đoán nhằm đảm bảo tính chính xác của nội dung quảng cáo. Tuy nhiên, quy định này là chưa phù hợp với một số hình thức quảng cáo mới như livestream trên mạng xã hội và hình thức quảng cáo trực tiếp khác có sự tương tác trực tiếp do các nội dung này sẽ cần sự ứng biến tùy tình hình. Ngoài ra, quy định này tương đối khó thực hiện trong thực tế do không rõ hình thức xác nhận như thế nào thì được coi là hợp lệ?

Cách quy định này cũng chưa thực sự hợp lý vì không phân hóa trách nhiệm giữa chủ thể liên quan (như đã trình bày ở Mục 3). Cách thiết kế như vậy kéo các chủ thể phải tham gia vào tất cả các giai đoạn, trong khi đến lúc có vi phạm, cần xử lý thì khó có thể tách bạch trách nhiệm của từng bên để có biện pháp xử lý phù hợp. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo bỏ quy định này (và sử dụng cơ chế phân hóa trách nhiệm như trên).

Hai, Điều 36a.3 Dự thảo yêu cầu người có tầm ảnh hưởng khi nêu cảm nhận phải có bằng chứng về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Quy định này là chưa rõ ràng vì không có hướng dẫn cụ thể về bằng chứng. Chẳng hạn, thế nào được coi là bằng chứng? Cần lưu trữ tài liệu nào thì được coi là bằng chứng (chẳng hạn: cảm nhận đã dùng sản phẩm 30 ngày thì có cần phải quay lại việc sử dụng mỗi ngày không)? Các tài liệu nào phải đáp ứng các yếu tố nào để được coi là bằng chứng (có hiển thị thời gian rõ ràng, được quay bằng thiết bị chuyên dụng hay phải lưu trữ trong thời gian bao lâu…)? Nhìn chung, quy định liên quan bằng chứng là rất phức tạp, và thường chỉ được sử dụng trong hoạt động tố tụng. Quy định này có thể gây khó khăn trong quá trình thực thi.

Có thể suy đoán, cơ quan soạn thảo muốn ngăn chặn tình trạng người nổi tiếng quảng cáo gian dối, như nói là có dùng sản phẩm, nhưng thực tế không có sử dụng. Đây là vấn đề nhức nhối và cần thiết phải có quy định xử lý. Từ góc độ thị trường, điều quan trọng là đảm bảo minh bạch hóa, công khai hết các thông tin với người tiếp nhận quảng cáo. Trong trường hợp này, quy định nên đi theo hướng yêu cầu người có tầm ảnh hưởng cung cấp thông tin đầy đủ về quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ (có dùng hay không, ai là người sử dụng, và với tần suất như thế nào…).

Việc cung cấp thông tin phải được gắn với nội dung quảng cáo (như ghi ở phần caption hoặc đính kèm đường link chứa tài liệu cung cấp thông tin). Quy định như vậy sẽ đảm bảo các KOL, KOC có trách nhiệm với các lời nói và nội dung quảng cáo của mình, từ đó hạn chế tình trạng như trên. Thậm chí, họ sẽ tự cân nhắc lưu lại một số tư liệu để chứng minh cho phát ngôn của mình (trong trường hợp cơ quan quản lý hoặc tòa án có yêu cầu). Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi theo hướng người có tầm ảnh hưởng, khi nêu cảm nhận về sản phẩm, dịch vụ, có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ về quá trình sử dụng, và phải được gắn với nội dung quảng cáo.

Ba, Điều 36a.2 Dự thảo yêu cầu KOL, KOC phải ký hợp đồng doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên (phần đầu Mục 4.2), có rất nhiều mối quan hệ có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của nội dung sáng tạo (content) mà KOL, KOC phải công khai. Luật chỉ cần yêu cầu KOL, KOC phải công khai content nào là quảng cáo, mà không cần yêu cầu về mặt hình thức như vậy (phải có hợp đồng).

Thẩm định sản phẩm quảng cáo

Luật Quảng cáo 2012 đã quy định về hoạt động thẩm định quảng cáo, theo đó đây là hoạt động xem xét tính phù hợp của sản phẩm quảng cáo với quy định pháp luật. Thẩm quyền thực hiện thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Hiện nay, số lượng sản phẩm quảng cáo hàng năm là cực kỳ lớn. Đi theo đó là nhu cầu được thẩm định các sản phẩm quảng cáo cũng tăng cao. Theo phản ánh của doanh nghiệp, Hội đồng thẩm định của Bộ với nhân lực mỏng, hiện khó có thể thẩm định hết các sản phẩm quảng cáo được yêu cầu, thậm chí trong nhiều trường hợp chỉ thực hiện với những trường hợp thật sự nhạy cảm. Điều này đã để lại một “khoảng trống nhu cầu” thẩm định của các doanh nghiệp.

Thực ra, đây không chỉ là vấn đề riêng của ngành quảng cáo mà cũng diễn ra ở một số ngành văn hóa khác, chẳng hạn như lĩnh vực điện ảnh. Theo kinh nghiệm từ lĩnh vực này, Điều 21 Luật Điện ảnh đã đưa ra giải pháp xử lý theo hướng cho phép doanh nghiệp được tự thực hiện phân loại phim khi đáp ứng một số điều kiện nhất định. Quy định này, một mặt, vừa giảm tải gánh nặng thẩm định phim cho cơ quan nhà nước (đặc biệt trước số lượng khổng lồ phim được phân phối trên nền tảng internet), vừa tạo sự chủ động, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp.

Từ những phân tích trên, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc đổi mới cơ chế thẩm định sản phẩm quảng cáo. Theo đó, giao cho Hiệp hội Quảng cáo hoặc các Hiệp hội ngành nghề tổ chức thẩm định sản phẩm quảng cáo. Hội đồng thẩm định của hiệp hội phải đáp ứng những điều kiện theo quy định pháp luật; Kết luận thẩm định của Hội đồng thẩm định của Hiệp hội có giá trị sử dụng toàn quốc;

Các chủ thể khác có quyền yêu cầu thẩm định lại trong trường hợp cho rằng sản phẩm quảng cáo có dấu hiệu vi phạm Điều 8 Luật Quảng cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tổ chức thẩm định lại sản phẩm quảng cáo. Kết luận thẩm định của Bộ là kết luận cuối cùng và có giá trị sử dụng trên toàn quốc.

Hành vi quảng cáo bị cấm

Điều 8.10 Luật Quảng cáo 2012 quy định hành vi bị cấm là quảng cáo bằng phương pháp so sánh trực tiếp sản phẩm, dịch vụ của mình với của tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên, quy định không thống nhất với pháp luật cạnh tranh. Theo Điều 45.5.b Luật Cạnh tranh, hành vi so sánh sản phẩm, dịch vụ chỉ bị cấm khi không chứng minh được nội dung. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp vẫn được thực hiện hành vi này, miễn là tuân thủ quy định pháp luật. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi quy định này cho thống nhất với Luật Cạnh tranh 2018.

Quảng cáo sản phẩm, hàng hoá đặc biệt

Theo VCCI, Điều 1.9 Dự thảo (bổ sung Điều 19a vào Luật Quảng cáo 2012) quy định về các quy định nội dung quảng cáo sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đặc biệt. VCCI, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc một số nội dung sau.

Một là, nội dung quảng cáo mỹ phẩm (Điều 19a.1.a, c Dự thảo): bổ sung quy định cho phép không cần nêu “tính năng, công dụng của sản phẩm” nếu tên mỹ phẩm đã thể hiện nội dung này;

Hai là, bỏ quy định yêu cầu hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đặc biệt phải có giấy chứng nhận được phép lưu hành tại Việt Nam (Điều 20.3a Dự thảo): hàng hoá đặc biệt đã được quản lý theo pháp luật chuyên ngành, có thể bằng giấy chứng nhận lưu hành hoặc các loại giấy phép khác (giấy tiếp nhận đăng ký, giấy xác nhận công bố, bản tự công bố…). Do vậy, quy định tại Dự thảo là không phù hợp, tăng thêm một loại giấy tờ (mà không tồn tại theo pháp luật chuyên ngành). VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bỏ quy định này. Việc quản lý hoạt động quảng cáo với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt sẽ được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.

Phong Lâm

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang