Quản lý chất lượng và áp dụng tiêu chuẩn đối với sản phẩm cà phê Việt Nam
(VietQ.vn) - Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh, chất lượng sản phẩm cần được kiểm soát từ vùng nguyên liệu, thu hoạch, sơ chế đến chế biến và bảo quản. Việc áp dụng tiêu chuẩn phù hợp, bảo đảm an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu là những yếu tố quan trọng giúp cà phê Việt Nam nâng cao uy tín.
Áp dụng tiêu chuẩn phù hợp từng sản phẩm cà phê
Chất lượng cà phê được hình thành qua nhiều công đoạn, từ giống, điều kiện canh tác, thu hoạch đến sơ chế và chế biến. Mỗi khâu đều có thể ảnh hưởng đến độ ẩm, màu sắc, kích thước hạt và hương vị sản phẩm. Vì vậy, quản lý chất lượng cần được thực hiện xuyên suốt quá trình sản xuất, thay vì chỉ kiểm tra thành phẩm trước khi đưa ra thị trường.
Đối với cà phê nhân, TCVN 4193:2014 là tiêu chuẩn quốc gia quy định các yêu cầu kỹ thuật đối với cà phê nhân. Tiêu chuẩn áp dụng cho cà phê chè (Arabica) và cà phê vối (Robusta), tạo căn cứ đánh giá chất lượng sản phẩm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những yếu tố như độ ẩm, tạp chất, kích thước hạt và khuyết tật là các nội dung cần được quan tâm khi kiểm tra cà phê nhân.
Đối với cà phê rang, doanh nghiệp có thể áp dụng TCVN 5250:2015. Đây là tiêu chuẩn quốc gia dành cho sản phẩm cà phê rang thuộc loài Coffea spp. Việc lựa chọn đúng tiêu chuẩn giúp cơ sở sản xuất có căn cứ xây dựng yêu cầu kỹ thuật và kiểm soát chất lượng sản phẩm sau rang.

Cà phê hòa tan được kiểm soát chất lượng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật trước khi đưa ra thị trường.
Đối với cà phê hòa tan nguyên chất, TCVN 12459:2018 quy định các yêu cầu về nguyên liệu, cảm quan và chỉ tiêu kỹ thuật của thành phẩm. Tiêu chuẩn đề cập đến màu sắc, mùi vị đặc trưng, độ ẩm, hàm lượng tro, caffeine và khả năng hòa tan trong nước. Đây là căn cứ để doanh nghiệp kiểm soát chất lượng cà phê từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.
Trong khi đó, TCVN 12807:2019 áp dụng đối với cà phê hỗn hợp hòa tan, quy định yêu cầu về nguyên liệu phối trộn, cảm quan và chất lượng thành phẩm. Tiêu chuẩn đề cập đến độ ẩm, trạng thái sản phẩm, khả năng hòa tan trong nước nóng và các yêu cầu về an toàn. Qua đó, doanh nghiệp có căn cứ kiểm soát chất lượng cà phê cũng như thành phần được sử dụng trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh việc áp dụng tiêu chuẩn cho thành phẩm, doanh nghiệp cần chú trọng kiểm soát nguyên liệu và điều kiện bảo quản. Đối với cà phê nhân, cần kiểm soát độ ẩm, vệ sinh kho chứa và hạn chế tiếp xúc với môi trường ẩm. Trong chế biến, các công đoạn làm sạch, rang, nghiền và đóng gói phải được thực hiện trong điều kiện phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bẩn, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Đặc biệt, việc kiểm tra nguyên liệu đầu vào và thành phẩm theo từng lô hàng giúp doanh nghiệp sớm phát hiện những vấn đề phát sinh. Khi có quy trình kiểm soát rõ ràng, cơ sở sản xuất cũng thuận lợi hơn trong xác định nguyên nhân và khắc phục khi sản phẩm không đáp ứng yêu cầu.
Theo Luật số 70/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tiêu chuẩn về nguyên tắc được áp dụng tự nguyện, trừ trường hợp được viện dẫn bắt buộc theo quy định pháp luật hoặc thuộc trường hợp pháp luật quy định phải áp dụng. Do đó, doanh nghiệp cần phân biệt rõ tiêu chuẩn tự lựa chọn với những quy định bắt buộc về chất lượng và an toàn thực phẩm.
Kiểm soát an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
Bên cạnh các chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm là yêu cầu quan trọng đối với cà phê xuất khẩu. Doanh nghiệp cần kiểm soát nguyên liệu đầu vào, điều kiện sản xuất, vệ sinh thiết bị, bảo quản và đóng gói. Đặc biệt, các nguy cơ liên quan đến độc tố vi nấm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cần được quan tâm trong quá trình sản xuất và kiểm tra sản phẩm.
Một trong những vấn đề cần chú ý là Ochratoxin A (OTA), độc tố vi nấm có thể xuất hiện trong nguyên liệu cà phê khi bị nấm mốc trong điều kiện bảo quản không phù hợp. Vì vậy, kiểm soát độ ẩm trong quá trình thu hoạch, sơ chế và lưu kho có ý nghĩa quan trọng. Đối với hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần kiểm tra giới hạn OTA theo quy định của thị trường nhập khẩu và loại sản phẩm cụ thể.
Theo quy định của Liên minh châu Âu được Bộ Công Thương thông tin trong tài liệu hướng dẫn về yêu cầu SPS đối với nông sản xuất khẩu sang Italia, giới hạn OTA tối đa đối với cà phê nhân chưa rang là 5,0 µg/kg; cà phê rang và cà phê xay là 3,0 µg/kg; cà phê hòa tan là 5,0 µg/kg. Những mức giới hạn này cho thấy yêu cầu an toàn thực phẩm có thể khác nhau tùy dạng sản phẩm.
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng là nội dung doanh nghiệp cần quan tâm. Việc sử dụng thuốc trong canh tác phải được kiểm soát, đồng thời cần cập nhật giới hạn dư lượng tối đa theo quy định của từng thị trường nhập khẩu. Doanh nghiệp nên phối hợp với vùng nguyên liệu, lưu giữ thông tin sản xuất và tổ chức kiểm nghiệm khi cần thiết để hạn chế nguy cơ lô hàng không đáp ứng yêu cầu.
Truy xuất nguồn gốc là khâu quan trọng khác trong quản lý chất lượng. Thông tin về vùng trồng, cơ sở thu mua, quá trình sơ chế, chế biến và đóng gói cần được lưu giữ để phục vụ kiểm tra khi cần thiết. Việc quản lý hồ sơ theo từng lô hàng giúp doanh nghiệp xác định nguồn nguyên liệu, kiểm soát quá trình sản xuất và xử lý kịp thời khi phát sinh vấn đề. Đây cũng là cơ sở để tăng tính minh bạch và tạo niềm tin với khách hàng.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần chú trọng ghi nhãn, bao gói và thông tin sản phẩm theo quy định áp dụng. Đối với hàng xuất khẩu, nội dung trên bao bì phải phù hợp yêu cầu của thị trường nhập khẩu và thỏa thuận với đối tác. Việc kiểm tra thông tin trước khi đóng gói giúp hạn chế sai sót trong quá trình giao dịch và lưu thông hàng hóa.
Quản lý chất lượng và áp dụng tiêu chuẩn cần được thực hiện xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến chế biến và phân phối. Khi doanh nghiệp lựa chọn đúng tiêu chuẩn, kiểm soát tốt các công đoạn sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm và minh bạch thông tin nguồn gốc, chất lượng cà phê sẽ được duy trì ổn định hơn. Đây cũng là cơ sở để cà phê Việt Nam nâng cao giá trị, củng cố uy tín và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Hùng Anh












