Tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thực phẩm: Vai trò, xu hướng và thực trạng năng lực kiểm nghiệm

author 15:22 09/10/2026

(VietQ.vn) - Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) ngày càng khẳng định vai trò trọng yếu, đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm. Đây không chỉ là công cụ quản lý nhà nước tạo hành lang pháp lý để đánh giá sản phẩm, mà còn là nền tảng kỹ thuật cốt lõi bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Sự kiện: Kỷ niệm Ngày Tiêu chuẩn Thế giới (14/10)

Tóm tắt:

Hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, nâng cao chất lượng và đảm bảo an toàn của sản phẩm thực phẩm. Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ 95 TCVN (72 TCVN đã công bố và 23 dự thảo TCVN) do Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia chủ trì xây dựng, cùng số liệu khảo sát năng lực tại 53 cơ sở kiểm nghiệm trên cả nước. Kết quả cho thấy hệ thống TCVN đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các kỹ thuật, công nghệ phân tích tiên tiến, bao phủ hầu hết mối nguy sinh học, hóa học và thành phần chất lượng của sản phẩm. Tuy nhiên, việc áp dụng các TCVN có tính kỹ thuật cao đang gặp phải một số hạn chế do sự chênh lệch về hạ tầng thiết bị giữa các tuyến trung ương và địa phương.

Từ khóa: Tiêu chuẩn quốc gia, an toàn thực phẩm, phát triển bền vững, kiểm nghiệm.

Giới thiệu

Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) ngày càng khẳng định vai trò trọng yếu, đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm. Đây không chỉ là công cụ quản lý nhà nước tạo hành lang pháp lý để đánh giá sản phẩm, mà còn là nền tảng kỹ thuật cốt lõi bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trên cơ sở nhiệm vụ được Bộ Y tế giao cho Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia (NIFC), trong những năm vừa qua, NIFC đã và đang tiến hành nghiên cứu, chuẩn hóa và xây dựng các phương pháp thử nghiệm trong lĩnh vực thực phẩm với 95 TCVN. Bài viết phân tích vai trò của TCVN trong phát triển bền vững, kiểm soát an toàn thực phẩm và công tác xây dựng TCVN tại NIFC, đối chiếu với năng lực thực tiễn của mạng lưới kiểm nghiệm toàn quốc, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chuẩn.

1. Tiêu chuẩn quốc gia và phát triển bền vững

Các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) là định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Việt Nam, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam bám sát 17 SDG của Liên Hợp Quốc với mục tiêu trọng tâm là tăng trưởng kinh tế hiệu quả, gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, TCVN đóng vai trò là công cụ quan trọng, giúp chuyển hóa các mục tiêu phát triển bền vững thành các yêu cầu kỹ thuật, quy trình kỹ thuật và thực hành thống nhất. Thông qua việc xây dựng và áp dụng các TCVN hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh mà còn góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.

Hệ thống TCVN có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều SDG của Liên Hợp Quốc và được biên soạn với tiêu chí hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy hợp tác và thương mại, bao gồm: Mục tiêu xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực (SDG 2); Mục tiêu sức khỏe và đời sống (SDG 3); Mục tiêu đảm bảo nước sạch và vệ sinh (SDG 6); Mục tiêu đổi mới hạ tầng trong công nghệ và đổi mới sáng tạo (SDG 9); Mục tiêu kiểm soát phát thải khí thải nhằm Ứng phó biến đổi khí hậu (SDG 13).

Trong bối cảnh phát triển bền vững, TCVN không chỉ hướng đến chất lượng sản phẩm mà còn trở thành cầu nối giữa chính sách phát triển bền vững với hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý. Việc hài hòa TCVN với tiêu chuẩn quốc tế như ISO, AOAC, Codex Alimentarius giúp doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng yêu cầu của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, TCVN góp phần phát triển bền vững thông qua chuẩn hóa phương pháp kiểm nghiệm, bảo đảm chất lượng và độ tin cậy của kết quả thử nghiệm, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quy trình sản xuất, kiểm soát nguy cơ ô nhiễm, nhằm thúc đẩy sản xuất thực phẩm an toàn; bảo vệ sức khỏe và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng.

2. Vai trò của Tiêu chuẩn quốc gia trong kiểm soát an toàn thực phẩm

Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) là một trong những công cụ kỹ thuật quan trọng góp phần xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm hiện đại, khoa học và hài hòa với thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm và yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ sức khỏe cộng đồng, vai trò của TCVN càng trở nên quan trọng đối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức kiểm nghiệm.

Bên cạnh đó, TCVN trở thành cơ sở khoa học và kỹ thuật để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), phương pháp thử nghiệm, hoạt động đánh giá sự phù hợp và công tác kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm. Bộ Y tế đã ban hành 54 QCVN về sản phẩm thực phẩm và giới hạn ô nhiễm trong thực phẩm (Hình 1) [1]. Trong đó, 25/54 QCVN có sự hiện diện của các TCVN về phương pháp lấy mẫu, phương pháp thử (Hình 2).

Hình 1. Tổng số QCVN. (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Hình 2. Sự hiện diện của TCVN trong QCVN. (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

3. Công tác xây dựng TCVN tại Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia (NIFC)

Tính từ năm 2011 đến nay, công tác xây dựng TCVN lĩnh vực an toàn thực phẩm tại NIFC đã đạt được những bước tiến vượt bậc về cả số lượng lẫn chiều sâu chất lượng. Tổng cộng đã có 72 TCVN được công bố và 23 dự thảo TCVN đang trong quá trình khảo nghiệm, hoàn thiện.

Các số liệu cho thấy xu hướng chuyển dịch trong tư duy tiêu chuẩn hóa. Giai đoạn trước 2020, các TCVN chủ yếu giải quyết các vấn đề an toàn thực phẩm chú trọng các phương pháp thử nghiệm cơ bản, thì từ năm 2021 trở đi, TCVN đã đi sâu đánh giá vi chất dinh dưỡng, kiểm soát chất lượng thực phẩm chức năng và phát hiện các mối nguy vi lượng ở mức siêu vết, phù hợp với xu hướng quốc tế.

Hình 3. Tiến độ và xu hướng xây dựng TCVN tại NIFC. (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Bên cạnh 09 TCVN (9,5%) xây dựng trên cơ sở hoàn toàn chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế (ISO) để đảm bảo hội nhập, NIFC cũng chú trọng xây dựng 86 TCVN (90,5%) thông qua tham khảo tiêu chuẩn AOAC, Dược điển và thực hiện khảo nghiệm đối chiếu thực tế. Việc đánh giá khách quan, khoa học này giúp đảm bảo phương pháp thử nghiệm phù hợp với đặc thù nền mẫu, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tại các phòng thử nghiệm của Việt Nam.

4. Rào cản giữa xây dựng Tiêu chuẩn và Thực tiễn năng lực hạ tầng

TCVN chỉ thực sự phát huy giá trị khi nó được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc đối chiếu giữa định hướng xây dựng TCVN kỹ thuật công nghệ cao với dữ liệu khảo sát hạ tầng thiết bị của 53 cơ sở kiểm nghiệm y tế tuyến tỉnh/khu vực cho thấy một nút thắt lớn [2].

Số liệu từ Bảng 1 chỉ ra rào cản lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ngành kiểm nghiệm, sự phân tầng thiết bị quá lớn khiến các TCVN hiện đại (như định danh bằng MALDI-TOF hay xác định đa dư lượng bằng LC-MS/MS) trở nên khó tiếp cận với phần lớn mạng lưới tuyến dưới. Tuy nhiên, việc sẵn sàng của các tiêu chuẩn quốc gia về kỹ thuật hiện đại luôn luôn phải sẵn có để phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người dân.

Bảng 1 - So sánh mức độ sẵn sàng của hạ tầng thiết bị phục vụ áp dụng TCVN [2]

Công nghệ yêu cầu theo TCVN

Mức độ trang bị tại 53 cơ sở

Khả năng ứng dụng TCVN

Quang phổ (UV-Vis, AAS) / Sắc ký lỏng (HPLC Phục vụ TCVN đo kim loại, phụ gia)

Phổ biến cao. UV-Vis đạt độ phủ 100%; AAS và HPLC phần lớn các cơ sở có từ 1-2 máy.

Tốt.

Các TCVN truyền thống được triển khai đồng bộ trên toàn quốc.

Sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS/MS) (Phục vụ TCVN đo BPA, dư lượng khó)

>50% cơ sở (29/53) ở tình trạng "Không có".

Thấp.

TCVN ban hành nhưng chỉ tập trung áp dụng được ở tuyến trung ương.

Giải trình tự gen / MALDI-TOF (Phục vụ TCVN định danh vi sinh, GMO)

MALDI-TOF có 48/53 cơ sở "Không có". PCR chuyên sâu rất ít.

Khó triển khai.

TCVN rất khó đưa vào thường quy tại tuyến tỉnh.

5. Kết luận và Kiến nghị

NIFC đã góp phần kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm tại Việt Nam thông qua việc chủ trì xây dựng 72 TCVN đã được công bố và 23 dự thảo TCVN đang trong quá trình khảo nghiệm phương pháp, hoàn thiện dự thảo. Để phát huy vai trò của tiêu chuẩn trong phát triển bền vững, cần tiếp tục hài hòa TCVN với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, ưu tiên các lĩnh vực mới gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, chuyển đổi số và công nghệ sinh học; Cập nhật kịp thời các phương pháp thử nghiệm tiên tiến như giải trình tự gen, Realtime - PCR, khối phổ độ phân giải cao (HRMS), phân tích đa dư lượng và trí tuệ nhân tạo; Xây dựng TCVN cho các lĩnh vực mới như thực phẩm mới, thực phẩm thay thế, thực phẩm chức năng thế hệ mới và vật liệu tiếp xúc với thực phẩm.

Đối với sự chênh lệch về trang thiết bị giữa các đơn vị kiểm nghiệm tuyến trung ương và tuyến tỉnh/thành phố trong việc ứng dụng các TCVN, các đơn vị tuyến tỉnh/ thành phố cần có kế hoạch phát triển kỹ thuật chuyên sâu, từng bước làm chủ thiết bị hiện đại nhằm nâng cao khả năng áp dụng TCVN.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm sự đồng bộ giữa TCVN và QCVN. Một số QCVN mới như QCVN 20-1:2024/BYT đã viện dẫn các TCVN hiện đại nhưng phần lớn các QCVN trong lĩnh vực thực phẩm vẫn đang ở phiên bản từ 2010-2012. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ cập nhật của các TCVN được viện dẫn trong các QCVN, trong khi bản thân các TCVN đã có nhiều thay đổi và phát triển qua các giai đoạn. Do đó, đề xuất có sự cập nhật liên tục các QCVN hàng năm để tiếp cận và hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế.

Mai Thị Ngọc Anh - Tạ Thị Yến - Trần Cao Sơn

Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, Bộ Y tế

Tài liệu tham khảo:

[1] Bộ Y tế (2026), Danh mục các QCVN do Bộ Y tế ban hành cần thực hiện đánh giá, phân loại rủi ro (Ban hành kèm theo Công văn số 3579/BYT-ATTP ngày 19/5/2026);

[2] Tạ Thị Yến (2026), Hệ thống kiểm nghiệm ngành y tế trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Hội thảo “Đảm bảo chất lượng kết quả kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu quản lý trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”.

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang