Truy xuất nguồn gốc số: Hạ tầng dữ liệu nâng cao năng suất, chất lượng
(VietQ.vn) - Truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số giúp doanh nghiệp số hóa và kết nối dữ liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng, từ đó kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, giảm sai lỗi, tối ưu nguồn lực, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Sự kiện: Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia năm 2026
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tham dự Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026
Chính thức diễn ra Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026
Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026: Những điểm nhấn đặc biệt
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng mở rộng, yêu cầu về minh bạch, an toàn và chất lượng sản phẩm ngày càng cao, truy xuất nguồn gốc (TXNG) trở thành công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp kiểm soát sản xuất, phát hiện sớm rủi ro, tối ưu nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lượng và củng cố niềm tin thị trường.
Theo ông Bùi Bá Chính - Giám đốc Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia (NBC) - Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, khái niệm về TXNG đã được định nghĩa trong các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm.
Như tại tiêu chuẩn ISO 22000:2018 nêu rõ, TXNG là khả năng theo dõi lịch sử, ứng dụng, sự di chuyển và vị trí của một đối tượng xuyên suốt các giai đoạn cụ thể của quá trình sản xuất, chế biến và phân phối. Còn theo tiêu chuẩn Codex CAC/GL 60-2006 cũng định nghĩa TXNG là khả năng theo dõi sự di chuyển của thực phẩm qua các công đoạn xác định của sản xuất, chế biến và phân phối.
Trước khi chuyển đổi số, hoạt động TXNG được thực hiện thông qua nhật ký sản xuất, phiếu nhập - xuất, hồ sơ lô hàng, chứng nhận, biên bản kiểm tra và hồ sơ phân phối. Tuy nhiên, khi chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, việc quản lý dữ liệu theo phương thức thủ công bộc lộ nhiều hạn chế.
Ông Bùi Bá Chính - Giám đốc Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia (NBC) - Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia. (Ảnh: Ngọc Xen)
TXNG trên nền tảng số tạo ra giá trị cả ở cấp doanh nghiệp và quốc gia
Nói về lợi ích của hệ thống TXNG trên nền tảng số, ông Bùi Bá Chính cho biết, TXNG trên nền tảng số có thể tạo ra giá trị ở cả cấp doanh nghiệp và quốc gia.
Ở cấp độ doanh nghiệp, truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình cốt lõi và tăng cường năng lực cạnh tranh. Trước hết, việc tự động hóa thu thập dữ liệu giúp dữ liệu được ghi nhận nhanh hơn, đồng thời giảm sai sót trong quá trình nhập liệu. Việc theo dõi trạng thái hàng hóa theo thời gian thực cũng giúp doanh nghiệp nắm bắt thông tin về hàng hóa nhanh và thuận tiện hơn.
TXNG trên nền tảng số còn giúp rút ngắn thời gian kiểm kê, giao nhận và tìm kiếm hồ sơ. Việc sử dụng Barcode, QR hoặc RFID để quét và ghi nhận thông tin góp phần nâng cao độ chính xác, hạn chế sai lỗi do con người.
Một lợi ích khác là giảm lãng phí trong hoạt động sản xuất. Khi thông tin được quản lý và truy xuất thuận tiện hơn, doanh nghiệp có thể tối ưu sản xuất, giảm sản phẩm lỗi và hàng trả lại. Hệ thống cũng hỗ trợ quản lý rủi ro, cho phép thu hồi sản phẩm nhanh chóng, chính xác khi xảy ra sự cố; đồng thời giúp doanh nghiệp xử lý khiếu nại và thu hồi linh hoạt hơn.
TXNG số còn hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện khả năng dự báo và lập kế hoạch tồn kho, đồng thời nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của khách hàng và cơ quan quản lý. Qua việc tăng tính minh bạch của thông tin, hệ thống góp phần nâng cao uy tín và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Ở quy mô quốc gia, TXNG trên nền tảng số hướng tới xây dựng một hệ sinh thái số thống nhất. Việc số hóa và kết nối dữ liệu giúp hình thành dữ liệu lớn (Big Data) về sản xuất và lưu thông, qua đó tạo cơ sở để hỗ trợ hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu thực tế.
Việc sử dụng chung hạ tầng chuẩn cũng góp phần tiết kiệm chi phí tuân thủ. Dữ liệu được kết nối và quản lý thống nhất giúp nâng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng quốc gia, đồng thời tạo điều kiện kết nối với thị trường toàn cầu.
TXNG số cũng giúp quốc gia đón đầu các xu hướng mới, trong đó có Hộ chiếu số sản phẩm (DPP) và kinh tế tuần hoàn. Như vậy, lợi ích ở cấp quốc gia không chỉ nằm ở việc quản lý thông tin hàng hóa mà còn ở việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ quản lý, nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng và đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường.
Cà phê, chè và bài toán nâng cao năng suất từ dữ liệu truy xuất
Truy xuất nguồn gốc cà phê giúp sản phẩm đáp ứng yêu cầu của quốc tế, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). (Ảnh minh họa)
Cùng với đó, ông Bùi Bá Chính cũng dẫn chứng về việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số trong chuỗi cung ứng cà phê, từ vùng trồng đến xuất khẩu, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Ông Chính cho biết, thực tế, nhật ký canh tác và thông tin vùng trồng còn được quản lý thủ công, phân tán, gây khó khăn trong tổng hợp, đối chiếu dữ liệu và lập hồ sơ truy xuất. Giải pháp chính là ứng dụng hệ thống TSMC, số hóa nhật ký canh tác và bản đồ vùng trồng trên nền tảng dữ liệu tập trung, kết nối dữ liệu từ vùng trồng đến khâu xuất khẩu.
Qua đó, hệ thống giúp thay thế hồ sơ giấy tờ thủ công; xác minh nhanh, chính xác nguồn gốc và vị trí vùng trồng; giảm thời gian tổng hợp, đối chiếu dữ liệu và đáp ứng EUDR. Đồng thời, việc số hóa giúp tối ưu nguồn lực, giảm sai sót, tăng năng suất vận hành và độ tin cậy trong chuỗi truy xuất cà phê bền vững.
Bên cạnh cà phê, ông Chính cũng giới thiệu mô hình truy xuất nguồn gốc chè Thái Nguyên theo tiêu chuẩn GS1. Mô hình xuất phát từ thực tế dữ liệu sản xuất tại vùng nguyên liệu còn thủ công, phân tán, nhật ký của các hộ trồng chè chưa được kết nối với nhà máy. Điều này khiến việc kiểm tra lịch sử sản xuất, xác thực nguồn gốc và chứng minh chất lượng sản phẩm còn mất nhiều thời gian, đồng thời làm hạn chế khả năng kiểm chứng của người tiêu dùng.
Với việc số hóa vùng nguyên liệu và định danh theo lô/mẻ, dữ liệu được ghi nhận xuyên suốt từ vùng chè, thu hoạch, chế biến đến đóng gói và gắn với mã QR duy nhất. Cách làm này giúp doanh nghiệp dễ dàng kiểm soát đầu vào, tra cứu thông tin và giám sát từng công đoạn sản xuất; đồng thời rút ngắn thời gian đối chiếu, chuẩn hóa quy trình, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng độ tin cậy của thương hiệu. Đây cũng là cơ sở để người tiêu dùng chủ động kiểm chứng thông tin sản phẩm trước khi lựa chọn.
Từ những phân tích trên, ông Bùi Bá Chính nhấn mạnh vai trò của dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số và nâng cao năng suất, với 4 nội dung cốt lõi: “Dữ liệu là tài sản mới - Truy xuất nguồn gốc là hạ tầng dữ liệu - Chuyển đổi số là phương thức tạo giá trị từ dữ liệu - Năng suất là kết quả của việc khai thác dữ liệu hiệu quả”.
Để phát huy giá trị của dữ liệu TXNG, ông Chính đưa ra một số khuyến nghị như sau: Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần sử dụng cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác điều hành, thống kê, phân tích và dự đoán; điều tiết nền kinh tế; giám sát việc tuân thủ pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đồng thời hoàn thiện nền tảng và cơ sở dữ liệu dùng chung.
Đối với doanh nghiệp, ông Chính khuyến nghị thực hiện chuyển đổi số theo lộ trình phù hợp quy mô doanh nghiệp; xây dựng các hệ thống chuyển đổi số theo hướng định danh - thu thập - lưu trữ - chia sẻ; đồng thời ứng dụng công nghệ tiên tiến và khai thác dữ liệu truy xuất để phục vụ quản trị, tối ưu hóa vận hành và nâng cao năng suất.
Hoàng Bách












