5 định hướng lớn để khoa học, công nghệ góp phần đưa Việt Nam thành quốc gia biển mạnh
(VietQ.vn) - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh 5 định hướng lớn để khoa học, công nghệ góp phần đưa Việt Nam thành quốc gia biển mạnh. Theo đó, Việt Nam không chỉ nghiên cứu, khai thác biển mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bộ Khoa học và Công nghệ đồng hành xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Tiên tiến Việt Nam
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành 12 thủ tục hành chính lĩnh vực an toàn bức xạ, hạt nhân
Ngày 21/8/2026, tại Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tổ chức hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”.
Phát biểu khai mạc chương trình, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một yêu cầu mới, có ý nghĩa chiến lược đối với ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đó là: chúng ta không chỉ nghiên cứu về biển, khai thác biển, mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bộ trưởng cho biết, nếu trước đây khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế biển, thì trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra cao hơn nhiều: khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; nền tảng để phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế. Nói cách khác, không gian biển phải trở thành một không gian phát triển dựa trên tri thức và công nghệ.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.
Ngày 7/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Đối với Bộ KH&CN, các nhiệm vụ được giao không phải là những nhiệm vụ riêng lẻ, mà là một hệ thống liên kết giữa nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Bộ trưởng cho rằng, ngành khoa học và công nghệ cần tập trung vào 5 định hướng lớn:
Thứ nhất, phải hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và có khả năng dẫn dắt. Chỉ tiêu hình thành từ 2-3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN không nên được nhìn đơn thuần là một chỉ tiêu về số lượng tổ chức. Đây phải được coi là chỉ tiêu về năng lực quốc gia.
Chúng ta cần những tổ chức có khả năng tập hợp đội ngũ chuyên gia mạnh, sở hữu hạ tầng nghiên cứu hiện đại, làm chủ dữ liệu và công nghệ, giải quyết được các bài toán lớn của quốc gia và có khả năng tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Tổ chức nghiên cứu mạnh phải trở thành hạt nhân của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển, chứ không phải chỉ là một đơn vị thực hiện thêm các nhiệm vụ nghiên cứu.
Thứ hai, phải coi dữ liệu biển là một loại hạ tầng chiến lược của quốc gia. Quản trị biển hiện đại trước hết phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Chúng ta cần xây dựng được hệ thống dữ liệu biển có tính thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn; kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, dữ liệu quan trắc, dữ liệu môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội trên biển; phát triển bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ quản lý, quy hoạch, cảnh báo và ra quyết định.
Đồng thời, phải giải quyết tốt bài toán chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, phân quyền khai thác và bảo đảm an ninh, an toàn, chủ quyền dữ liệu. Nếu dữ liệu còn phân tán, chúng ta khó có thể có quản trị biển hiện đại. Nếu không có dữ liệu đủ tốt, chúng ta cũng khó có thể làm chủ các công nghệ biển thế hệ mới.
Thứ ba, phải chuyển mạnh từ “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ”. Đây là thay đổi rất quan trọng về tư duy. Chúng ta cần xác định rõ những công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam để tập trung nguồn lực nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ, chuyển giao và từng bước phát triển.
Trong đó cần quan tâm đến công nghệ quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển và biển sâu; thiết bị ngầm, robot biển và phương tiện không người lái; công nghệ công trình biển và năng lượng ngoài khơi; công nghệ môi trường biển; nuôi biển công nghiệp; công nghệ sinh học biển và các công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
“Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu báo cáo, mà là chúng ta làm chủ được những công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành được năng lực quốc gia nào”, Bộ trưởng khẳng định.
Thứ tư, phải lấy doanh nghiệp và địa phương làm những chủ thể quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình quản trị và giá trị kinh tế - xã hội.
Vì vậy, doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa. Nhà nước cần tạo cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiến lược. Đồng thời, các địa phương ven biển cần được đặt vào vị trí chủ động hơn trong việc xác định bài toán, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho các sản phẩm, công nghệ biển.
Thứ năm, phải đổi mới cách tổ chức và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển. Biển là một không gian liên thông; vì vậy, nghiên cứu biển cũng không thể tiếp tục bị chia cắt quá nhiều theo ngành, lĩnh vực hay địa giới hành chính. Cần chuyển mạnh sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng, gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia.
Tinh thần là: ít nhiệm vụ phân tán hơn nhưng nhiệm vụ lớn hơn; ít chú trọng vào số lượng hơn nhưng coi trọng kết quả và tác động; lấy sản phẩm cuối cùng và năng lực được hình thành làm thước đo.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Thanh Hà.
Ở góc độ địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Thanh Hà cho rằng thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đòi hỏi chuyển dịch tư duy từ khai thác biển đơn thuần sang quản trị đại dương hiện đại, từ phát triển kinh tế ven biển nhỏ lẻ sang xây dựng quốc gia biển mạnh.
Theo ông Nguyễn Thanh Hà, Khánh Hòa có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ biển của cả nước, với 490 km bờ biển, hơn 200 hòn đảo, các vịnh nước sâu Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh cùng huyện đảo Trường Sa có vị trí đặc biệt về kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Địa phương cũng tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo về biển như Viện Hải dương học, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Đại học Nha Trang cùng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và kỹ sư có kinh nghiệm.
Khánh Hòa xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là 3 trụ cột động lực để chuyển hóa lợi thế tự nhiên và tri thức thành lợi thế cạnh tranh dài hạn. Để phát huy vai trò cực tăng trưởng, tỉnh đề xuất Trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng R&D đại dương dùng chung cấp quốc gia tại Khánh Hòa, gồm tàu nghiên cứu biển sâu, các phòng thí nghiệm trọng điểm và mạng lưới trạm quan trắc thông minh tích hợp AI/IoT.
Đồng thời, tỉnh đề nghị Bộ KH&CN xem xét đưa Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa vào quy hoạch hệ thống các trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ chiến lược.
“Khánh Hòa cam kết dành nguồn lực ưu tiên cao nhất, chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng, thể chế, hạ tầng cũng như phối hợp chặt chẽ với các Viện, Trường trên địa bàn để đón nhận và triển khai hiệu quả các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Thanh Hà nói.
Hoàng Bách












