551 dự án, 1.426 mô hình khoa học và công nghệ nâng cao sinh kế cho người dân
(VietQ.vn) - Sau 10 năm thực hiện, Chương trình nông thôn miền núi đã triển khai 551 dự án tại 34/34 tỉnh, thành phố; xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến; đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82.700 lượt nông dân. Các mô hình ứng dụng công nghệ đạt mức tăng giá trị kinh tế trung bình hơn 30% so với công nghệ cũ.
Hoàn thiện nền tảng tiêu chuẩn cho các sản phẩm công nghệ chiến lược Việt Nam
Phát triển công nghệ chiến lược gắn với bài toán lớn của quốc gia
Đó là kết quả nổi bật được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định thông tin tại Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025, ngày 26/6/2026.
Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình, quy trình được chuyển giao mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phát biểu tại chương trình hội thảo.
Trong quá trình triển khai, nhiều mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ đã phát huy hiệu quả, tạo chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế địa phương. Tiêu biểu như các mô hình trồng trọt tại Ninh Bình; sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu tại Hà Tĩnh, Quảng Trị; sản xuất lúa gạo chất lượng cao tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An...
Không dừng lại ở việc tạo ra sản phẩm, nhiều dự án còn góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đáng chú ý, nhiều sản phẩm từ các mô hình đã được phát triển thành sản phẩm OCOP, được cấp chỉ dẫn địa lý, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất.
Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh, các dự án nông thôn, miền núi có đặc thù khác với các nhiệm vụ khoa học công nghệ thông thường. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra công trình nghiên cứu, công bố khoa học hay bằng sáng chế, mà là thương mại hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm cụ thể, tạo giá trị kinh tế và sinh kế cho người dân.
Tuy nhiên, quá trình này luôn đối mặt với nhiều rủi ro. Trong đó có những yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường. Một mô hình sản xuất dù có tiềm năng nhưng nếu gặp rủi ro về thời tiết hoặc thị trường cũng có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư.
Mặt khác, năng lực quản trị của một số đơn vị tiếp nhận công nghệ, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, người dân ở vùng khó khăn còn hạn chế. Trong khi đó, yêu cầu quản lý, kiểm tra, thanh quyết toán nguồn vốn hỗ trợ vẫn cần tuân thủ chặt chẽ, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu quản lý và năng lực thực tế của đơn vị triển khai.
Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình Nông thôn miền núi.
Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng, cần có cách tiếp cận phù hợp hơn với đặc thù của các dự án phát triển nông thôn, miền núi; không thể áp dụng hoàn toàn mô hình quản lý của các nhiệm vụ khoa học công nghệ truyền thống.
Một vấn đề khác được đặt ra là khả năng dự báo thị trường. Khi triển khai một dự án kéo dài 3-5 năm, việc xác định nhu cầu thị trường trong tương lai là thách thức lớn. Sản phẩm cuối cùng có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kết nối thị trường, xây dựng chuỗi giá trị và tổ chức sản xuất.
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng Chương trình cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức triển khai.
Theo đó, cần chuyển từ hỗ trợ mô hình sang giải quyết các bài toán phát triển cụ thể của địa phương; từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ hỗ trợ từng dự án riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương. Việc đánh giá hiệu quả cũng cần chuyển từ số lượng mô hình sang tác động thực tế đối với kinh tế - xã hội, khả năng nhân rộng và đóng góp vào tăng trưởng của địa phương.
Tại Hội thảo, đại diện các địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đã chia sẻ kết quả ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa, cây cảnh, dược liệu, khoai tây, nha đam, nuôi ong, chế biến gỗ và nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều dự án đã góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tạo việc làm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Các ý kiến cũng làm rõ vai trò liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Bên cạnh kết quả đạt được, Hội thảo thẳng thắn phân tích những khó khăn liên quan đến thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, thủ tục quản lý, năng lực tiếp nhận công nghệ và khả năng duy trì, nhân rộng mô hình sau khi dự án kết thúc.
Thanh Tùng











