Bài 2: Chuẩn hóa dữ liệu cho hệ thống truy xuất

author 12:55 03/01/2026

(VietQ.vn) - Dù được xem là công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình sản xuất và minh bạch thông tin với người tiêu dùng, việc ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc hiện vẫn đối mặt nhiều vướng mắc về kỹ thuật, nguồn lực và quản trị.

Các sản phẩm có tem truy xuất nguồn gốc giúp người tiêu dùng yên tâm hơn. (Ảnh: REDCLOUD)

Thực tế đó đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, thiết thực hơn để công nghệ phát huy hiệu quả và đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của thị trường.

Thiếu chuẩn chung trong kết nối dữ liệu

Thực tế cho thấy dù nhiều mô hình công nghệ đã được triển khai, thực hiện nhưng vẫn chưa thật sự hiệu quả. Việc áp dụng còn rời rạc, chi phí lớn, thiếu chuẩn dữ liệu thống nhất và không liên thông giữa các hệ thống… khiến việc ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc chưa phát huy được vai trò như kỳ vọng.

Ông Nguyễn Đức Lê, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều bất cập. Việc áp dụng tiêu chuẩn về mã số mã vạch quốc tế GS1 vẫn chưa đồng bộ, khiến cùng một chuỗi cung ứng nhưng lại tồn tại nhiều “ngôn ngữ dữ liệu” khác nhau. Sự rời rạc này làm cho quá trình chuyển đổi, nạp dữ liệu và bảo đảm tính duy nhất của định danh sản phẩm vào hệ thống quốc gia gặp khó khăn. Đáng chú ý, tình trạng phân mảnh, mỗi doanh nghiệp sử dụng một giải pháp khác nhau, dẫn đến việc thiếu liên thông dữ liệu, làm giảm hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng.

Là doanh nghiệp công nghệ, Công ty cổ phần Công nghệ cao Hachi Việt Nam phát triển nền tảng truy xuất nguồn gốc tích hợp với hệ thống quản lý trang trại (FMS), thông qua mã QR và dữ liệu số hóa. Hachi cũng là một trong số ít doanh nghiệp tại Việt Nam tích hợp dữ liệu từ nhà màng, hệ thống tưới và cảm biến môi trường vào chuỗi truy xuất trong nông nghiệp, tạo hồ sơ canh tác chi tiết và khó bị làm giả.

Giám đốc vận hành của Hachi Nguyễn Thị Mai Hương cho biết, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở khâu nhập dữ liệu khi nhiều hộ sản xuất chưa quen ghi chép đầy đủ, dẫn đến dữ liệu thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu cũng như tiêu chuẩn thị trường. Việc sử dụng thiết bị di động cũ hoặc đường truyền mạng yếu cũng khiến quá trình cập nhật thông tin thường xuyên bị gián đoạn.

Thực tế hiện nay, dữ liệu truy xuất chủ yếu do doanh nghiệp tự nhập, trong khi sự tham gia xác thực của cơ quan quản lý còn hạn chế, làm giảm giá trị và độ tin cậy của hệ thống.

Theo Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Bảo Trung, việc liên thông dữ liệu giữa các hệ thống và giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước vẫn rất khó khăn. Nhiều nền tảng truy xuất được xây dựng độc lập, thiếu tiêu chuẩn chung cho nên không thể kết nối, dẫn đến dữ liệu rời rạc và chi phí duy trì lớn. Bên cạnh đó, nhiều vùng trồng, vùng nuôi và cơ sở sản xuất chưa được định danh hoặc chưa có mã số đầy đủ; sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; chi phí duy trì và cập nhật dữ liệu là gánh nặng với các đơn vị sản xuất nhỏ, cản trở quá trình triển khai hiệu quả.

Dù Nhà nước đã ban hành nhiều quy định, trong đó có Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa nhưng công tác hướng dẫn, kiểm tra và giám sát thực thi vẫn chưa thật sự quyết liệt. Bên cạnh những vướng mắc về chính sách, doanh nghiệp còn lo ngại chi phí đầu tư, vận hành hệ thống và thiếu nhân lực triển khai, nhất là các cơ sở sản xuất truyền thống, thủ công.

Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, Công ty cổ phần Công nghệ Chống giả Việt Nam đã giới thiệu giải pháp truy xuất nguồn gốc TrueData, sử dụng vật mang dữ liệu bằng chip RFID, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn mã số mã vạch quốc tế GS1 và các yêu cầu của Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN. Giải pháp này hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát lưu thông hàng hóa và giúp cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Công nghệ Chống giả Việt Nam Phạm Văn Thọ cho rằng, đây là công nghệ mới, cho nên cần được truyền thông rộng rãi để doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu, tin tưởng và sẵn sàng ứng dụng. Hơn nữa khi triển khai, doanh nghiệp vẫn băn khoăn về chi phí đầu tư, vận hành và nguồn nhân lực, nhất là trong các ngành sản xuất thủ công, truyền thống.

Cần liên thông đa ngành, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế

Trong bối cảnh Việt Nam chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, công nghệ trở thành công cụ then chốt để giám sát chất lượng và bảo đảm an toàn chuỗi cung ứng.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, để việc ứng dụng công nghệ truy xuất phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện khung pháp lý thống nhất; và thúc đẩy hợp tác công-tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ, giảm chi phí triển khai. Cùng với đó, cần phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu lưu thông hàng hóa để không chỉ hỗ trợ thương mại điện tử, chống thất thu thuế, bảo đảm an ninh tiền tệ mà còn tạo nền tảng cho tem xác thực điện tử nhằm định danh người bán, xác thực hàng hóa và ngăn chặn hàng giả, hàng nhái, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ. Việc hoàn thiện tiêu chuẩn và cơ sở dữ liệu hàng hóa cũng giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ dễ dàng khai báo, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Để việc ứng dụng công nghệ truy xuất phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện khung pháp lý thống nhất; và thúc đẩy hợp tác công-tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ, giảm chi phí triển khai.

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Đồng quan điểm nêu trên, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia Đỗ Hồng Trung cho biết, việc chia sẻ dữ liệu phải mang tính bắt buộc giữa các bộ, ngành và các nhà cung cấp nền tảng.

Theo ông Trung, doanh nghiệp không tự đưa dữ liệu lên hệ thống mà phải thông qua các bộ, ngành - nơi dữ liệu được thu thập, chuẩn hóa và xử lý bằng AI, Big Data trước khi chuyển về Trung tâm dữ liệu quốc gia. Mô hình phân tán này giúp xử lý hiệu quả khối lượng dữ liệu quá lớn, đồng thời mỗi bộ, ngành trở thành một đầu mối truy xuất.

Hiện nay, nhiều thị trường xuất khẩu lớn đã yêu cầu bắt buộc về minh bạch thông tin, môi trường và tính bền vững của sản phẩm. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược, mở ra cơ hội để Việt Nam đưa truy xuất nguồn gốc trở thành trụ cột của quản lý, kinh doanh hiện đại.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng: Cần xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia đạt mức chuẩn hóa dữ liệu liên thông đa ngành, kết nối quốc tế và ứng dụng mạnh mẽ AI, Blockchain, IoT cùng các nền tảng số. Đồng thời, mọi ngành hàng chủ lực - từ nông nghiệp, công nghiệp, dược phẩm đến tiêu dùng phải áp dụng truy xuất nguồn gốc theo chuẩn thống nhất, chuyển từ “kết nối kỹ thuật” sang “liên thông dữ liệu quốc gia”. Nếu không liên thông dữ liệu lớn, Việt Nam khó có thể kết nối với thị trường thế giới. Cần lan tỏa để mọi ngành hàng đều có cơ hội tham gia, đặc biệt phải xây dựng hệ thống truy xuất trong đó doanh nghiệp nhìn thấy rõ lợi ích để chủ động tham gia.

Theo Báo Nhân Dân

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang