Chăn nuôi bền vững: Nâng cao năng suất và chất lượng từ nền tảng công nghệ
(VietQ.vn) - Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang chịu áp lực lớn từ dịch bệnh, biến động giá cả, yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm và môi trường, chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng bền vững, hiện đại và kiểm soát bằng công nghệ không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc.
Vietjet tiếp tục góp mặt trong nhóm hãng hàng không an toàn nhất thế giới năm 2026
Doanh nghiệp ngành cao su áp dụng công cụ cải tiến Lean: Giảm chi phí, tăng năng suất rõ nét
Anh ban hành tiêu chuẩn mới về hệ thống nước phun sương trong nhà ở
Theo thống kê, toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 1.619 trang trại chăn nuôi, gồm 80 trang trại quy mô lớn, 786 trang trại quy mô vừa và 753 trang trại quy mô nhỏ. Điểm đáng chú ý là các trang trại quy mô lớn và vừa đang từng bước chuyển dịch từ mô hình chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi khép kín, ứng dụng công nghệ cao, coi đây là nền tảng để phát triển bền vững.
Việc ứng dụng hệ thống chuồng kín, thông gió tự động, điều khiển nhiệt độ và độ ẩm bằng cảm biến giúp tạo môi trường nuôi ổn định, giảm stress cho vật nuôi, hạn chế dịch bệnh phát sinh. Nhờ đó, tỷ lệ hao hụt giảm rõ rệt, năng suất tăng từ 10 - 20% so với phương thức chăn nuôi truyền thống, đồng thời chất lượng đàn vật nuôi được cải thiện đồng đều.

Mô hình nuôi gà đồi thả tự nhiên ở xã Tân Khánh được duy trì và phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Không chỉ dừng lại ở hạ tầng chuồng trại, công nghệ số đang dần được đưa vào quản lý sản xuất. Thông qua các phần mềm theo dõi đàn, kiểm soát thức ăn, lịch tiêm phòng và tăng trưởng, người chăn nuôi có thể giám sát toàn bộ quy trình sản xuất ngay trên điện thoại thông minh. Đây là bước tiến quan trọng giúp giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm thủ công, tăng tính chính xác và chủ động trong sản xuất.
Nhờ áp dụng đồng bộ các giải pháp khoa học kỹ thuật, chất lượng đàn vật nuôi trên địa bàn Thái Nguyên đã có sự cải thiện rõ nét. Đến nay, tổng đàn vật nuôi của tỉnh gồm khoảng 135.000 con trâu, bò; gần 888.000 con lợn và hơn 20 triệu con gia cầm.
Đáng chú ý, 76% đàn lợn đạt năng suất, chất lượng cao, 68% đàn bò là giống chất lượng tốt, 87% đàn gà lông màu được cải thiện về chất lượng giống. Đây là kết quả của quá trình cơ cấu lại giống, đẩy mạnh thụ tinh nhân tạo, lựa chọn giống có khả năng sinh trưởng nhanh, phù hợp điều kiện chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp.
Việc nâng cao chất lượng đàn không chỉ giúp tăng sản lượng thịt, trứng, sữa mà còn tạo tiền đề quan trọng kiểm soát an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. Khi chất lượng giống được kiểm soát ngay từ đầu vào, hiệu quả của các giải pháp công nghệ trong chuồng trại cũng được phát huy tối đa.
Cùng với mục tiêu nâng cao năng suất, ngành chăn nuôi đang đứng trước yêu cầu cấp thiết về giảm phát thải, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Để hiện thực hóa định hướng này, tỉnh Vĩnh Long đã tập trung cải thiện phương thức chăn nuôi theo hướng giảm phát thải, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý chất thải chặt chẽ hơn. Trong đó, việc đầu tư các công trình xử lý chất thải, đặc biệt là hệ thống khí sinh học (biogas) mang lại hiệu quả rõ rệt. Thực tế cho thấy, hơn 19.000 công trình biogas đã được xây dựng, vừa góp phần xử lý ô nhiễm môi trường, vừa tạo nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
Song song với đó, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi có bổ sung men vi sinh, hạn chế kháng sinh, kết hợp tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp đã giúp giảm tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng an toàn, thân thiện với người tiêu dùng.
Theo ông Lê Văn Đông, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, “chăn nuôi xanh là mô hình chăn nuôi bền vững, hướng đến mục tiêu giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi”.
Theo ông Lê Văn Đông, kết quả bước đầu của chăn nuôi xanh gắn liền với việc triển khai đồng bộ các chính sách của Trung ương. Nổi bật là Quyết định số 50/2014 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ; Nghị định số 98/2018 về khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản; và gần đây là Nghị định số 106/2024 về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Từ các chính sách này, nhiều mô hình liên kết cụ thể giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp đã hình thành, góp phần ổn định đầu ra, giảm rủi ro thị trường và tạo điều kiện để người chăn nuôi mạnh dạn đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thực tiễn cho thấy, khi chính sách được triển khai đồng bộ và có sự đồng hành của doanh nghiệp, quá trình chuyển đổi sang chăn nuôi xanh, chăn nuôi công nghệ cao không chỉ khả thi mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Từ thực tiễn tại Thái Nguyên, Vĩnh Long và nhiều địa phương khác, có thể khẳng định khoa học công nghệ chính là chìa khóa cho phát triển bền vững ngành chăn nuôi. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm, mà còn góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường và gia tăng giá trị sản phẩm.
Trong bối cảnh thị trường ngày càng tiêu chuẩn hóa, chỉ những mô hình chăn nuôi hiện đại, xanh và minh bạch mới có khả năng tồn tại và phát triển lâu dài. Khi công nghệ trở thành nền tảng, chăn nuôi đang từng bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang ngành kinh tế kỹ thuật cao, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thanh Hiền









