Cuộc chiến chống hàng giả 'đội lốt' thương hiệu Việt diễn biến phức tạp
(VietQ.vn) - Cuộc chiến bảo vệ thương hiệu Việt trong bổi cảnh mới đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường ứng dụng công nghệ, xây dựng nền tảng dữ liệu và nâng cao năng lực quản trị... là lá chắn sống còn.
Phân bón Cà Mau tiếp sức thế hệ trẻ, góp sức cho tương lai đất nước
Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định: Yêu cầu chặt chẽ về tổ chức và nhân sự
Hàng giả 'đội lốt' hàng xuất khẩu: Hé lộ đường dây xuyên biên giới
Gian lận thương mại và hàng giả bủa vây sản phẩm Việt
Cùng với sự phát triển của sản xuất trong nước, nhiều thương hiệu Việt đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, khi một sản phẩm tạo được uy tín, có lượng khách hàng ổn định và chiếm lĩnh thị phần, nguy cơ bị làm giả, làm nhái cũng gia tăng. Đáng lo ngại, hàng giả hiện nay không còn xuất hiện theo những phương thức đơn giản mà ngày càng “đội lốt” tinh vi, từ bao bì, nhãn mác đến tem chống giả và mã truy xuất thông tin.
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, mạng xã hội và hoạt động bán hàng trực tuyến đã tạo ra không gian kinh doanh rộng lớn, nhưng đồng thời cũng mở thêm những địa bàn phức tạp cho hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn quốc đã phát hiện, xử lý 67.937 vụ vi phạm, tăng 36,66% so với cùng kỳ năm 2025. Số tiền thu nộp ngân sách đạt hơn 9.647 tỷ đồng, tăng 49,36%, trong khi 1.676 vụ án với 2.789 đối tượng bị khởi tố hình sự.
Riêng trong đợt cao điểm từ ngày 16/7 đến 15/8/2026, các lực lượng thuộc Ban Chỉ đạo 389 Bộ Công Thương đã kiểm tra 4.469 vụ việc và xử lý 3.529 vụ vi phạm. Những con số này cho thấy cuộc chiến chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vẫn đang diễn biến phức tạp, với quy mô và thủ đoạn ngày càng khó kiểm soát.
Đáng chú ý, không chỉ các thương hiệu lớn mới trở thành mục tiêu. Nông sản, đặc sản địa phương và các sản phẩm mang thương hiệu Việt cũng đang đứng trước nguy cơ bị làm giả, làm nhái. Đến hết tháng 6/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Sự gia tăng nhanh về số lượng sản phẩm cũng đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều nhãn hiệu đặc sản có nguy cơ bị sao chép bao bì, giả mạo tên gọi hoặc thay thế sản phẩm thật bằng hàng kém chất lượng.

Lực lượng chức năng xử lý cơ sở làm hàng giả. Ảnh: VTV
Trong môi trường kinh doanh trực tuyến, hàng giả có thể được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các đại lý không chính thức, tài khoản bán hàng ẩn danh hoặc các phiên livestream. Nhiều đối tượng lợi dụng hình ảnh của thương hiệu để quảng cáo sản phẩm không rõ nguồn gốc, khiến người tiêu dùng khó xác định đâu là hàng thật, đâu là hàng giả.
Phương thức hoạt động của các đường dây sản xuất hàng giả cũng có nhiều thay đổi. Thay vì nhập khẩu hàng giả nguyên kiện, các đối tượng có xu hướng chia nhỏ từng công đoạn. Bao bì, nhãn mác có thể được nhập từ bên ngoài hoặc in lậu trong nước; nguyên liệu được thu gom từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó đóng gói và hoàn thiện sản phẩm tại các kho hàng nội địa. Cách làm này khiến việc phát hiện, truy vết nguồn gốc và xử lý vi phạm trở nên khó khăn hơn.
Thực tế thời gian qua đã ghi nhận nhiều vụ việc nghiêm trọng. Tại Quảng Ninh, tháng 4/2025, cơ quan chức năng khởi tố đường dây sản xuất thuốc diệt cỏ giả mang nhãn hiệu BIOGLY88.8SP với hàng chục nghìn gói sản phẩm được tiêu thụ trên phạm vi cả nước. Tại nhiều địa phương khác, hàng giả cũng xuất hiện trong các lĩnh vực từ thực phẩm, đồ ăn vặt đến xuất bản phẩm và thời trang.
Mới đây, lực lượng chức năng tại thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện đường dây sản xuất, gia công và tiêu thụ áo thun giả mạo nhiều nhãn hiệu nổi tiếng với quy mô lớn. Điển hình, lực lượng chức năng đã bất ngờ đột kích, kiểm tra kho hàng tại ấp 17, xã Hóc Môn đã phát hiện 11.000 đôi dép xỏ ngón mang nhãn hiệu "Havaianas" có dấu hiệu giả mạo. Trong khi đó, đầu tháng 8/2026, lực lượng quản lý thị trường tỉnh Bắc Ninh tạm giữ hơn 1.200 gói chè giả mạo nhãn hiệu cùng máy móc đóng gói và nguyên liệu không rõ nguồn gốc.
Điều đáng lo ngại nhất là hàng giả đang xâm nhập sâu vào những nhóm sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân. Theo bác sĩ chuyên khoa II Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở An toàn thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh, việc quản lý an toàn thực phẩm hiện nay chủ yếu theo hướng hậu kiểm, trong đó nhiều sản phẩm do doanh nghiệp tự công bố hoặc đăng ký bản công bố. Vì vậy, tính trung thực và minh bạch của thông tin sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nếu thông tin bị làm giả hoặc sai lệch, người tiêu dùng có thể đối mặt với nguy cơ ngộ độc và những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe. Đối với cơ quan quản lý, việc khoanh vùng, truy tìm và thu hồi sản phẩm vi phạm cũng trở nên khó khăn hơn khi hàng hóa đã được phân phối qua nhiều kênh khác nhau.
Không chỉ gây nguy hiểm cho người tiêu dùng, hàng giả còn trực tiếp làm tổn hại đến doanh nghiệp chân chính. Một thương hiệu bị giả mạo có thể mất doanh thu, mất khách hàng và phải bỏ thêm chi phí để xử lý khủng hoảng truyền thông, bảo vệ hệ thống phân phối. Nguy hiểm hơn, khi người tiêu dùng mua phải hàng giả nhưng tin rằng đó là sản phẩm của một doanh nghiệp Việt, uy tín thương hiệu có thể bị ảnh hưởng trong thời gian dài.
Công nghệ và dữ liệu tạo “lá chắn” mới cho thương hiệu
Theo các cơ quan chức năng, thủ đoạn đưa hàng giả đến tay người tiêu dùng ngày càng khó nhận diện bằng mắt thường. Thượng tá Nguyễn Thành Danh, Phó Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các đối tượng thường quảng cáo hàng giả dưới những tên gọi như “hàng xách tay”, “hàng chính hãng xả kho” để tạo tâm lý tin tưởng và kích thích người mua.
Nhiều sản phẩm giả hiện được làm khá tinh xảo, có cả tem chống giả, mã QR giả và giấy chứng nhận giả. Điều này cho thấy việc chỉ dựa vào kinh nghiệm hoặc quan sát bằng mắt thường không còn đủ để bảo vệ người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm ngày càng trở nên cấp thiết. Nếu trước đây, doanh nghiệp chủ yếu sử dụng tem nhãn để phân biệt hàng thật, thì hiện nay việc bảo vệ thương hiệu cần được xây dựng trên một hệ thống dữ liệu có khả năng kiểm chứng thông tin xuyên suốt.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, nếu hàng giả ngày càng tận dụng công nghệ để tiếp cận người tiêu dùng thì giải pháp chống hàng giả cũng cần dựa vào công nghệ. Tuy nhiên, quan trọng hơn là phải hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất để có thể xác thực và truy xuất thông tin sản phẩm.
Định hướng này cũng được đặt trong mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số phục vụ công tác quản lý và bảo vệ người tiêu dùng. Hệ thống được phát triển trên ba nền tảng chính là định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc. Trong đó, mã QR có thể đóng vai trò là cầu nối giữa sản phẩm thực tế với dữ liệu điện tử, giúp người tiêu dùng tiếp cận thông tin nhanh hơn.
Việc ứng dụng mã QR động kết hợp với công nghệ chống sao chép có thể nâng cao khả năng phát hiện các dấu hiệu bất thường, chẳng hạn như một mã bị sử dụng lặp lại nhiều lần. Tuy nhiên, hiệu quả của công nghệ chỉ được phát huy khi thông tin phía sau mã QR là dữ liệu chính xác và được quản lý thống nhất. Một mã QR đơn thuần nếu có thể sao chép dễ dàng sẽ không đủ để trở thành công cụ chống hàng giả.
Đối với cơ quan quản lý, hệ thống truy xuất thông tin có thể giúp chuyển dần từ kiểm tra hồ sơ giấy sang đối chiếu dữ liệu nhanh hơn. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải chủ động minh bạch thông tin sản phẩm nếu muốn duy trì niềm tin của khách hàng.
Cùng với ứng dụng công nghệ, hành lang pháp lý cũng đang từng bước được hoàn thiện. Luật Thương mại điện tử 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đặt ra yêu cầu xác thực danh tính đối với cá nhân, tổ chức tham gia livestream bán hàng hoặc hoạt động tiếp thị liên kết. Đây được xem là một trong những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng sử dụng tài khoản ẩn danh để kinh doanh hàng giả, hàng nhái.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp và đặc sản địa phương, Bộ tiêu chí phân hạng sản phẩm OCOP theo Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, an toàn thực phẩm và thông tin truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, cuộc chiến bảo vệ thương hiệu không thể chỉ đặt lên vai cơ quan quản lý. Doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống tự vệ nhiều lớp, bắt đầu từ việc đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và các tài sản liên quan.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể ứng dụng tem chống giả, mã QR động hoặc công nghệ nhận diện phù hợp để hỗ trợ khách hàng kiểm tra thông tin. Việc chuẩn hóa hệ thống phân phối, phát triển các gian hàng chính hãng trên nền tảng thương mại điện tử, xác thực kênh truyền thông và công khai danh sách đại lý được ủy quyền cũng là giải pháp quan trọng để giảm nguy cơ hàng giả chen vào thị trường.
Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, doanh nghiệp cần chủ động thu thập chứng cứ, phối hợp với lực lượng chức năng và đưa ra cảnh báo kịp thời. Bởi trong môi trường số, việc chậm trễ vài ngày cũng có thể khiến hàng nghìn sản phẩm giả được tiêu thụ và gây tổn hại lớn đến uy tín thương hiệu.
Cuộc chiến chống hàng giả “đội lốt” thương hiệu Việt vì thế không chỉ là hoạt động xử lý vi phạm, mà còn là cuộc chiến bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng và giá trị của sản xuất chân chính. Khi cơ quan quản lý, nền tảng kinh doanh, doanh nghiệp và người tiêu dùng cùng tham gia vào một hệ thống minh bạch, có khả năng xác thực và truy xuất thông tin, thương hiệu Việt mới có thêm “lá chắn” vững chắc trước những thủ đoạn làm giả ngày càng tinh vi.
An Dương












