158.234 sản phẩm đã cập nhập vào hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản
(VietQ.vn) - Chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông đã ghi nhận 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm của 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.
ISO 11929: Chuẩn hóa xác định ngưỡng quyết định và giới hạn phát hiện trong đo lường bức xạ
PV GAS: Vượt kế hoạch 6 tháng đầu 2026 tất cả các chỉ tiêu, duy trì nguồn cung khí đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia
TCVN 10170-7:2025 về độ chính xác mẫu kiểm hoàn thiện của trung tâm gia công
Sau gần 2 tháng chính thức vận hành, Hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ghi nhận 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm, của 19 doanh nghiệp đã thực hiện TXNG và cập nhật dữ liệu vào Hệ thống TXNG của Bộ. Đây là báo cáo vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố kể từ thời điểm chính thức sử dụng Hệ thống TXNG nông sản từ ngày 1/7/2026.
Đáng chú ý, đến nay đã có 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc hoàn thành kết nối với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. 9 đơn vị khác đã gửi hồ sơ đăng ký kết nối và đang chờ xem xét, phê duyệt, cho thấy số lượng doanh nghiệp công nghệ tham gia hệ sinh thái TXNG nông sản đang tiếp tục được mở rộng.
Nếu tính lũy kế kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Hệ thống TXNG nông sản, quy mô dữ liệu đã tăng lên đáng kể. Đến nay, 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm của 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố đã được các đơn vị kết nối, cập nhật và chia sẻ dữ liệu vào hệ thống.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố kết quả kể từ thời điểm chính thức sử dụng Hệ thống TXNG nông sản từ ngày 1/7/2026. Ảnh minh họa
Kết quả kết nối dữ liệu tại các địa phương cụ thể: Thành phố Hà Nội: Hệ thống TXNG thành phố có trên 3.000 cơ sở và trên 12.000 sản phẩm; trong đó khoảng 5% sản phẩm đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối của Hệ thống Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tỉnh Thái Nguyên: Hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản, 5.136 cơ sở, 222 vùng sản xuất; quản lý 149 mã số vùng trồng; có 6 doanh nghiệp, hợp tác xã đáp ứng kết nối với Hệ thống Bộ.
Tỉnh Hưng Yên đã kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API; có 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất.
Tỉnh Quảng Ninh đã đồng bộ 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống của tỉnh.
Đến nay, có 4 doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản, gồm: Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương đã kết nối Hệ thống TXNG của các doanh nghiệp (tự phát triển) với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Về địa phương, có 5 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện TXNG.
Để phục vụ việc kết nối, TXNG nông sản, Bộ đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai thử nghiệm Hệ thống TXNG. Đồng thời, ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về chuẩn kết nối, truyền nhận dữ liệu phiên bản 1.0 để các địa phương, doanh nghiệp có thể kết nối với Hệ thống TXNG của Bộ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thống nhất kế hoạch kết nối Hệ thống TXNG nông sản với nền tảng quốc gia do Bộ Công an xây dựng; sẵn sàng thực hiện kết nối khi nền tảng quốc gia được công bố chính thức. Đồng thời kết nối kỹ thuật với Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, vận hành.
Hà My












