Thông tư mới về truy xuất nguồn gốc hàng hóa rủi ro cao: Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì?

author 05:46 29/06/2026

(VietQ.vn) - Thông tư mới của Bộ Công Thương quy định về truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa có mức độ rủi ro cao được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch, tăng hiệu quả quản lý và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, truy xuất nguồn gốc không còn là công cụ hỗ trợ mà đang trở thành yêu cầu quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa. Việc minh bạch thông tin về nguồn gốc, quá trình sản xuất và phân phối không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín mà còn tạo niềm tin cho người tiêu dùng, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động này, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT ngày 11 tháng 6 năm 2026 quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Thông tư tập trung vào nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu đối với các nhóm hàng hóa khác chủ động áp dụng truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh.

Điểm đáng chú ý của Thông tư là không chỉ quy định việc gắn mã truy xuất mà còn yêu cầu doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu xuyên suốt toàn bộ vòng đời của sản phẩm. Điều này cho thấy truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là một mã QR trên bao bì mà là quá trình số hóa và quản lý toàn bộ thông tin của hàng hóa từ khâu sản xuất đến lưu thông trên thị trường.

Hàng hóa rủi ro cao cần phải truy xuất nguồn gốc trước khi lưu thông góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng . Ảnh minh họa

Theo quy định, doanh nghiệp có thể lựa chọn khai báo trực tiếp trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ. Tuy nhiên, dù lựa chọn phương án nào thì hệ thống của doanh nghiệp cũng phải bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ Công Thương. Quy định này hướng tới việc hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm tra và truy xuất khi cần thiết.

Thông tư cũng quy định rõ các thông tin tối thiểu doanh nghiệp phải khai báo khi định danh sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc. Ngoài các thông tin cơ bản như tên doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tên và hình ảnh sản phẩm, doanh nghiệp còn phải cung cấp thông tin về xuất xứ hàng hóa, đơn vị sản xuất, thương hiệu, số lô hoặc số sê-ri, hạn sử dụng và các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng.

Đặc biệt, hệ thống truy xuất phải phản ánh các sự kiện trọng yếu trong toàn bộ chuỗi cung ứng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12850 hoặc tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc toàn cầu GS1. Đây là điểm mới quan trọng bởi thay vì chỉ xác định nơi sản xuất, hệ thống còn cho phép theo dõi quá trình hình thành và lưu thông của sản phẩm qua từng công đoạn. Đối với hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp còn phải bổ sung thông tin về đơn vị nhập khẩu và nhà phân phối chính thức tại Việt Nam nhằm tăng tính minh bạch đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường.

Một nội dung đáng chú ý khác là quyền tiếp cận thông tin của người tiêu dùng được mở rộng hơn trước. Thông qua Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương, người tiêu dùng có thể tra cứu miễn phí các thông tin cơ bản như tên sản phẩm, xuất xứ, hình ảnh, đơn vị sản xuất, địa chỉ doanh nghiệp, thương hiệu, số lô và hạn sử dụng. Khi phát hiện thông tin chưa chính xác hoặc có dấu hiệu bất thường, người tiêu dùng cũng có quyền phản ánh tới cơ quan quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đối với doanh nghiệp, Thông tư đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý và lưu trữ dữ liệu. Toàn bộ hồ sơ truy xuất phải được lưu giữ bằng phương tiện điện tử, bảo đảm tính toàn vẹn, an toàn và bảo mật. Thời gian lưu trữ tối thiểu là 12 tháng sau khi hàng hóa hết hạn sử dụng đối với sản phẩm có hạn sử dụng và 60 tháng đối với hàng hóa không có hạn sử dụng. Việc lưu trữ đầy đủ dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định nguyên nhân, khoanh vùng và xử lý khi phát sinh sự cố về chất lượng hoặc thu hồi sản phẩm.

Thông tư cũng yêu cầu hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ của doanh nghiệp phải có khả năng kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương thông qua giao diện API, đồng thời bảo đảm cơ chế ghi nhận lịch sử cập nhật, kiểm soát thay đổi dữ liệu và sẵn sàng cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi có yêu cầu. Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế nguy cơ chỉnh sửa hoặc làm sai lệch dữ liệu truy xuất.

Có thể thấy, việc ban hành Thông tư 31/2026/TT-BCT không chỉ hướng đến mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị sản xuất, kinh doanh. Khi dữ liệu được số hóa và quản lý đồng bộ, doanh nghiệp sẽ nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, giảm rủi ro trong chuỗi cung ứng, đồng thời đáp ứng tốt hơn các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế.

Theo đánh giá của chuyên gia, Thông tư 31 là bước điều chỉnh phù hợp, thể hiện cách tiếp cận quản lý theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng dàn trải đối với tất cả các nhóm hàng hóa. Việc tập trung yêu cầu truy xuất nguồn gốc đối với những mặt hàng có nguy cơ cao sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Đồng thời còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang