Loại trừ lừa đảo trực tuyến với các tiêu chuẩn an ninh mạng
(VietQ.vn) - Không gian mạng đang trở thành “mặt trận” mới của tội phạm, khi các nhóm lừa đảo không còn hoạt động đơn lẻ mà ngày càng chuyên nghiệp, có tổ chức, xuyên quốc gia và dựa nhiều hơn vào công nghệ để tiếp cận, thao túng nạn nhân.
Sự kiện: AN TOÀN THÔNG TIN
An ninh mạng trước thách thức kép: Thiếu nhân lực và sự trỗi dậy của AI
Hàng rào an ninh mạng mới cho camera giám sát Internet
Vịnh Tiên kiến tạo chuẩn sống 'Quận Nhất' mới
Tội phạm mạng ngày càng tinh vi nhờ AI, deepfake
Trung tá Lê Anh Tuấn, Phó trưởng Phòng 5, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an, nhận định không gian mạng đã trở thành môi trường hoạt động mới của tội phạm lừa đảo.
Theo thông tin được lực lượng chức năng công bố, tình hình lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 có dấu hiệu giảm. Tuy nhiên, diễn biến phía sau lại cho thấy tính chất tội phạm ngày càng phức tạp. Từ đầu năm đến nay, công an các địa phương đã phát hiện một số nhóm người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, thuê các căn hộ, chung cư cao cấp để tổ chức hoạt động lừa đảo, trong đó có cả nạn nhân là công dân nước ngoài. Hơn 219 người nước ngoài liên quan đến hoạt động lừa đảo trực tuyến đã bị phát hiện, bắt giữ.
Đáng chú ý, lừa đảo trực tuyến không còn đơn thuần là hành vi chiếm đoạt tài sản. Theo Trung tá Lê Anh Tuấn, loại tội phạm này đang trở thành một trong những dạng tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia nguy hiểm, kéo theo nhiều hành vi vi phạm khác như mua bán người, xuất nhập cảnh trái phép, thu thập và mua bán dữ liệu cá nhân.
Nếu trước đây kẻ gian chủ yếu dựa vào tin nhắn, cuộc gọi giả danh hoặc các website giả mạo, thì nay trí tuệ nhân tạo đang giúp chúng tạo ra những kịch bản có độ chân thực cao hơn nhiều.

Tấn công mạng ngày càng tinh vi đòi hỏi cần phải nâng chuẩn để tránh các sự cố. Ảnh minh họa
Hình ảnh, video và giọng nói có thể được tạo hoặc chỉnh sửa bằng công nghệ deepfake để giả mạo người thân, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ hoặc đối tác. Khi giọng nói và hình ảnh đều có vẻ “đúng người”, nạn nhân dễ bỏ qua bước xác minh và thực hiện giao dịch theo yêu cầu.
Xu hướng này đặc biệt nguy hiểm trong các tình huống yêu cầu chuyển tiền gấp. Một cuộc gọi giả giọng người thân báo đang gặp sự cố, hay một video giả lãnh đạo yêu cầu chuyển khoản khẩn cấp, có thể khiến người nhận không đủ thời gian kiểm chứng.
Trong khi đó, dữ liệu cá nhân bị thu thập, mua bán trái phép lại trở thành “nguyên liệu” để tội phạm xây dựng những kịch bản lừa đảo ngày càng sát với đời thực. Đây là lý do bảo vệ dữ liệu, bảo vệ thiết bị đầu cuối và bảo vệ hệ thống thông tin phải được triển khai đồng thời, thay vì chỉ tập trung vào khâu xử lý sau khi xảy ra sự cố.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất của sự dịch chuyển này là số lượng mã độc trên thiết bị di động. Hệ thống phòng, chống lừa đảo nTrust của Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia ghi nhận 62.952 loại mã độc mới trên điện thoại di động tại Việt Nam trong năm 2025. Trong số đó có 931 loại phần mềm giả mạo các ứng dụng phổ biến, nhằm đánh cắp thông tin hoặc chiếm quyền điều khiển thiết bị. Có tới 34,13% người dùng được khảo sát cho biết từng gặp sự cố liên quan đến mã độc, tăng đáng kể so với 23,40% năm 2024.
Điện thoại ngày nay không chỉ dùng để liên lạc mà còn lưu trữ dữ liệu cá nhân, tài khoản ngân hàng, mã xác thực và thông tin công việc. Vì vậy, khi thiết bị bị kiểm soát, nguy cơ không chỉ dừng ở mất dữ liệu mà có thể kéo theo mất tài khoản và tài sản.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở thành mục tiêu đáng chú ý. Tội phạm có thể mã hóa dữ liệu để đòi tiền chuộc, gửi thông báo giả danh ngân hàng, cơ quan thuế hoặc công ty điện lực nhằm lấy thông tin thanh toán, chiếm quyền truy cập tài khoản.
Trong lĩnh vực ngân hàng, việc chuyển từ phòng thủ bị động sang cảnh báo sớm đang cho thấy hiệu quả rõ rệt.
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 23/3/2026, Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã được triển khai tại 149 đơn vị, với hơn 688.000 bản ghi về tài khoản, ví điện tử, thẻ ngân hàng và đơn vị chấp nhận thanh toán có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo hoặc vi phạm pháp luật.
Hệ thống đã cảnh báo tới 3,5 triệu lượt khách hàng. Trong đó, hơn 1,1 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau khi nhận cảnh báo, với tổng giá trị giao dịch tương ứng hơn 3,99 nghìn tỷ đồng.
Những con số này cho thấy công nghệ có thể được sử dụng để tấn công, nhưng cũng có thể trở thành công cụ quan trọng để nhận diện và ngăn chặn tội phạm trước khi tiền được chuyển đi.
Sự xuất hiện của deepfake, mã độc di động và các nhóm lừa đảo xuyên quốc gia cho thấy cuộc chiến chống tội phạm mạng đang bước sang giai đoạn mới. Không thể chỉ trông chờ vào sự cảnh giác của người dùng hay xử lý sau khi tiền đã bị chuyển đi.
An ninh mạng cần được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn mới
Trước sự thay đổi nhanh chóng của các nguy cơ trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin không thể chỉ dừng ở việc xử lý khi sự cố xảy ra. Cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp cần chủ động nhận diện rủi ro, bảo vệ tài sản số, kiểm soát lỗ hổng và chuẩn bị phương án ứng phó. Trong đó, tiêu chuẩn an ninh mạng cung cấp một khung yêu cầu thống nhất để các đơn vị tổ chức hoạt động phòng vệ bài bản hơn.
Đáng chú ý, hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về an ninh mạng đang được cập nhật theo hướng cụ thể và sát hơn với từng lớp bảo vệ. Năm 2026, Việt Nam công bố TCVN 14620:2026 “An ninh mạng – Tường lửa – Yêu cầu kỹ thuật chung”, tập trung vào một thành phần quan trọng trong hệ thống phòng thủ mạng. Tiêu chuẩn này được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố theo Quyết định số 1429/QĐ-BKHCN ngày 2/3/2026.
Có thể hiểu đơn giản, tường lửa là một trong những “cửa kiểm soát” đầu tiên giữa hệ thống thông tin với các kết nối bên ngoài. Vì vậy, yêu cầu đối với tường lửa không chỉ là ngăn chặn truy cập trái phép mà còn phải bảo đảm khả năng kiểm soát, giám sát và xử lý các luồng kết nối, qua đó góp phần hạn chế nguy cơ xâm nhập vào hệ thống.
Nếu TCVN 14620:2026 tập trung vào một lớp bảo vệ cụ thể thì TCVN 14423:2026 về An ninh mạng - Yêu cầu đối với hệ thống thông tin quan trọng có phạm vi rộng hơn, đưa ra các yêu cầu cơ bản về an ninh mạng đối với hệ thống thông tin theo cấp độ. Tiêu chuẩn được công bố ngày 24/7/2026 theo Quyết định số 3243/QĐ-BKHCN và thay thế TCVN 14423:2025, TCVN 11930:2017. Đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, tiêu chuẩn quy định áp dụng các yêu cầu về an ninh mạng tương đương hệ thống thông tin cấp độ 5.
Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận mới là an ninh mạng được nhìn nhận theo cấp độ của hệ thống và mức độ rủi ro cần kiểm soát, thay vì áp dụng một yêu cầu giống nhau cho mọi hệ thống. Điều này giúp cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp xác định rõ hơn hệ thống của mình cần được bảo vệ ở mức nào, từ đó lựa chọn biện pháp kỹ thuật và tổ chức phù hợp.
Việc liên tục bổ sung các tiêu chuẩn chuyên sâu cũng cho thấy yêu cầu bảo vệ không còn chỉ tập trung vào phần mềm hay máy chủ. Từ hệ thống thông tin, tường lửa đến các thiết bị kết nối mạng, từng lớp trong hạ tầng số đều đang được đặt ra yêu cầu bảo vệ cụ thể hơn.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, năm 2026, yêu cầu bảo đảm an ninh mạng cũng được mở rộng tới các thiết bị kết nối Internet. QCVN 11:2026/BCA về camera giám sát sử dụng giao thức Internet, ban hành kèm Thông tư 48/2026/TT-BCA, đặt ra các yêu cầu an ninh mạng cơ bản đối với thiết bị camera được sản xuất, lưu hành tại Việt Nam. Quy chuẩn có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, hướng tới hạn chế nguy cơ camera bị khai thác để truy cập trái phép, chiếm quyền điều khiển hoặc làm lộ dữ liệu.
Trong khi đó, QCVN 12:2026/BCA tập trung vào hệ thống thông tin lưu trữ tài liệu điện tử trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, với các yêu cầu về quản lý rủi ro, bảo vệ dữ liệu, kiểm soát truy cập, giám sát, sao lưu và khôi phục dữ liệu khi xảy ra sự cố.
Như vậy, cùng với sự phát triển của AI, deepfake, mã độc và các hình thức tấn công mới, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về an ninh mạng cũng đang chuyển theo hướng cụ thể hóa từng lớp bảo vệ và nâng cao yêu cầu phòng thủ. Đây là cơ sở để các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp chuyển từ tâm thế xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa, giảm nguy cơ hệ thống bị biến thành “điểm yếu” để tội phạm mạng khai thác.
An Dương












