Nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy công nghệ chiến lược: Gắn cơ chế với thực tiễn
(VietQ.vn) - Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Quyết định số 2815/QĐ-TTg (ngày 28/12/2025) của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, đã xác định vai trò chủ động của bộ, ngành, địa phương trong đặt hàng các nhiệm vụ công nghệ gắn với nhu cầu phát triển. Trên cơ sở đó, Bộ đang đẩy nhanh cơ chế tài trợ theo hình thức đặt hàng, hoàn thiện hướng dẫn chuẩn hóa quy trình hình thành nhiệm vụ, tạo căn cứ để triển khai hiệu quả thông qua các quỹ quốc gia.
Ưu tiên triển khai 6 sản phẩm công nghệ chiến lược theo cơ chế tài trợ và đặt hàng
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát triển công nghệ chiến lược là việc không thể chậm trễ
Bổ sung công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị vào nhóm 10 công nghệ chiến lược quốc gia

Nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)
Bài 2: Gắn cơ chế với thực tiễn (Tiếp theo và hết)
Liên kết "Ba nhà"
Các chuyên gia chia sẻ: Để phát huy vai trò của các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, cần đổi mới cơ chế tài trợ theo hướng linh hoạt, tăng cường liên kết viện-trường-doanh nghiệp, đồng thời đầu tư phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo nền tảng bền vững bứt phá công nghệ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Nafosted nhận định, phát triển công nghệ chiến lược cần xuất phát từ nhu cầu, bài toán cụ thể của các bộ, ngành, địa phương, với sự tham gia chủ động của các chủ thể trên cơ sở năng lực và lợi thế riêng.
Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực nghiên cứu chuyên sâu, việc tăng cường hợp tác với viện, trường trở thành tất yếu. Khi các chủ thể được kết nối hiệu quả, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp. Trên cơ sở đó, Quỹ Nafosted có thể phát huy vai trò cầu nối, thúc đẩy gắn kết các bên, góp phần phát triển công nghệ chiến lược một cách hiệu quả, bền vững. Theo hướng này, mô hình liên kết “ba nhà” (Nhà nước-nhà khoa học-doanh nghiệp) ngày càng được khẳng định là cách tiếp cận phù hợp cho phát triển công nghệ chiến lược.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ), cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước không chỉ ban hành cơ chế, chính sách mà còn hỗ trợ nguồn lực cho doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp đặt hàng trở lại các viện nghiên cứu, trường đại học. Cách tiếp cận này góp phần hình thành một vòng liên kết chặt chẽ giữa “ba nhà”, tạo nền tảng cho thị trường công nghệ phát triển, khắc phục hạn chế của mô hình nghiên cứu đơn lẻ trước đây.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông Đinh Văn Trung cho biết, tại Mỹ, thông qua Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), Nhà nước giao cộng đồng khoa học xây dựng các báo cáo chiến lược dài hạn, xác định các hướng nghiên cứu ưu tiên, từ đó cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, đơn đặt hàng cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Cách làm này tạo nên chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể, đồng thời gợi mở hướng tiếp cận phù hợp cho Việt Nam trong việc tổ chức triển khai các chương trình công nghệ chiến lược theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.
Thực tế chứng minh, dù đã chủ động đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp “nút thắt” ở đầu ra; thiếu môi trường triển khai thực tế khiến sản phẩm khó hoàn thiện và chậm bước vào thị trường. Đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ lõi như AI camera, UAV, robot tự hành…, yêu cầu về cơ chế hỗ trợ kịp thời, đủ mạnh từ phía Nhà nước càng trở nên cấp thiết.
Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho hay, các sản phẩm công nghệ nếu không được triển khai trong thực tiễn sẽ khó hoàn thiện và được thương mại hóa. Vì vậy, định hướng Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, đặt hàng các sản phẩm công nghệ chiến lược được xem là giải pháp quan trọng, tạo “cú huých” để doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư, phát triển công nghệ lõi, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.
Từ thực tế thành công với sản phẩm AI Camera phục vụ nhận diện, giám sát thông minh, ông Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc MK Vision cho hay, điều doanh nghiệp cần là những đơn đặt hàng cụ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò “khách hàng đầu tiên”, nhất là với các sản phẩm lưỡng dụng. Không chỉ tạo nguồn lực trực tiếp, cơ chế này còn là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, hoàn thiện công nghệ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp kỳ vọng các quỹ về khoa học công nghệ không chỉ tài trợ cho giai đoạn nghiên cứu mà còn đóng vai trò cầu nối, tăng cường liên kết với đội ngũ nhà khoa học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Sự kết nối này sẽ góp phần nâng cao khả năng tiếp cận các nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng cao, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm, qua đó gia tăng đóng góp của doanh nghiệp vào phát triển công nghệ chiến lược.
Đổi mới, tạo cơ chế thông thoáng
Có thể khẳng định, nếu được phát huy hiệu quả, các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nhất là quỹ quốc gia có thể trở thành công cụ tài chính đặc thù với lợi thế linh hoạt, kịp thời cho việc thúc đẩy, triển khai các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Hiện nay, dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Nafosted đang được xây dựng, trong đó xác định vai trò hạt nhân trong việc liên kết với các quỹ của bộ, ngành, địa phương để hình thành hệ sinh thái tài trợ đồng bộ, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng cơ chế và đội ngũ kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, thúc đẩy hình thành các nhiệm vụ, dự án chung, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cần tái cơ cấu quỹ theo ba trụ cột. Trước hết, quỹ tập trung tài trợ đột phá cho nghiên cứu cơ bản và công nghệ tiền cạnh tranh, những lĩnh vực có rủi ro cao, thời gian thu hồi dài mà thị trường khó đảm đương. Tiếp đó, quỹ đóng vai trò “vốn mồi” hỗ trợ thương mại hóa và chuyển giao công nghệ, thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm, tránh tình trạng nhiều kết quả nghiên cứu bị dừng lại giữa chừng. Quỹ cần có cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài khoa học, nhất là đội ngũ nhà khoa học người Việt ở nước ngoài, thông qua các gói hỗ trợ đủ hấp dẫn để hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Gắn với các trụ cột này, vấn đề nhân lực cho công nghệ chiến lược cần được tiếp cận theo hướng đào tạo gắn với nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, thay vì dàn trải như trước đây.
Nhằm tạo đột phá về nguồn nhân lực cho công nghệ chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phê duyệt Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030, hướng tới hình thành đội ngũ có năng lực vượt trội, đủ sức tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh và dẫn dắt các hướng công nghệ mũi nhọn.
Dự kiến đến năm 2030, chương trình hỗ trợ khoảng 1.000 nghiên cứu sinh với mức tài chính cạnh tranh quốc tế, qua đó tạo sức hút đủ lớn để giữ chân và thu hút nhân tài, giúp các nhà khoa học trẻ yên tâm nghiên cứu toàn thời gian trong nước. Cùng với phát triển nhân lực, Quỹ đẩy mạnh đầu tư hạ tầng khoa học và công nghệ theo hướng gắn với nhiệm vụ cụ thể; hỗ trợ nâng cấp, kết nối phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và hệ thống thiết bị thử nghiệm, kiểm định… phục vụ trực tiếp cho các sản phẩm công nghệ chiến lược, đáp ứng yêu cầu triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong giai đoạn tới...
Theo Báo Nhân Dân









