Nghệ An nâng cấp hạ tầng, đảm bảo chất lượng nước sạch nông thôn theo quy chuẩn
(VietQ.vn) - Nghệ An đang đẩy mạnh rà soát, nâng cấp hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn nhằm bảo đảm chất lượng nước đạt quy chuẩn, góp phần cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới bền vững.
Sự kiện: QCVN, TCVN: Tiêu chuẩn mới - Tương lai mới
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia đối với sữa dạng lỏng
Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch trên địa bàn Hà Tĩnh
Bộ Xây dựng áp dụng quy chuẩn khí thải mức 4 dành cho xe mô tô mới từ 01/7/2026
Chất bảo quản thực phẩm và những vấn đề đặt ra về an toàn sức khỏe trong khuôn khổ quy chuẩn
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng đời sống người dân, tỉnh Nghệ An đang đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nước sạch sinh hoạt, bảo đảm đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Việc nâng cấp hạ tầng cấp nước và hoàn thiện cơ chế quản lý được xác định là nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm người dân nông thôn được tiếp cận nguồn nước an toàn, ổn định và bền vững.
Theo lãnh đạo tỉnh Nghệ An, thời gian qua địa phương đã tập trung rà soát, hoàn thiện quy hoạch cũng như hệ thống văn bản quản lý liên quan đến đầu tư, vận hành và khai thác các công trình cấp nước sinh hoạt. Mục tiêu là xây dựng hệ thống cấp nước đồng bộ từ đô thị đến nông thôn, trong đó đặc biệt chú trọng bảo đảm chất lượng nước đạt quy chuẩn theo quy định của ngành y tế.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hoàng Phú Hiền cho biết, tỉnh đã tiến hành rà soát toàn diện hệ thống công trình cấp nước hiện có, đồng thời thống nhất nguyên tắc quản lý hạ tầng cấp nước trên phạm vi toàn tỉnh. Việc quản lý và vận hành các công trình cấp nước phải hướng tới mục tiêu bảo đảm chất lượng nước đầu ra đạt quy chuẩn, phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người dân.
Đối với khu vực nông thôn, các địa phương được yêu cầu đánh giá cụ thể hiện trạng từng công trình cấp nước tập trung, từ nguồn nước, công nghệ xử lý đến năng lực vận hành. Trên cơ sở đó, tỉnh từng bước sắp xếp lại hệ thống quản lý, ưu tiên bàn giao các công trình cho những đơn vị có đủ năng lực khai thác và vận hành nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ cấp nước.

Nghệ An đẩy mạnh nâng cấp, mở rộng và quản lý hệ thống mạng lưới cấp nước đạt quy chuẩn. Ảnh minh họa
Hiện nay, toàn tỉnh Nghệ An có 561 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung. Trong đó có 492 công trình tự chảy, chủ yếu phân bố tại khu vực miền núi, và 69 công trình bơm dẫn động lực. Tổng công suất thiết kế của hệ thống đạt khoảng 80.000 m³/ngày đêm, cung cấp nước cho hơn 115.000 hộ dân tại 160 xã trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, nhiều công trình được đầu tư từ nhiều năm trước nên đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Hệ thống xử lý nước tại một số nơi còn lạc hậu, thiết bị xuống cấp, trong khi nguồn kinh phí cho công tác bảo trì, nâng cấp còn hạn chế. Điều này khiến chất lượng nước tại một số công trình chưa thật sự ổn định và chưa đáp ứng đầy đủ các quy chuẩn về nước sạch.
Thống kê cho thấy, trong tổng số 69 công trình bơm dẫn động lực chỉ có khoảng 8 công trình đạt công suất trên 1.000 m³/ngày đêm và bảo đảm các tiêu chuẩn về nước sạch. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng xử lý nước, đồng thời cải thiện công tác quản lý và vận hành hệ thống cấp nước.
Trước thực trạng đó, Nghệ An đang triển khai rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các công trình cấp nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm chất lượng nguồn nước. Việc đầu tư được định hướng theo hướng tập trung, tránh tình trạng dàn trải, đồng thời ưu tiên nâng cấp những công trình có khả năng cung cấp nước ổn định cho nhiều khu dân cư.
Theo ông Hoàng Phú Hiền, quan điểm của tỉnh là không để người dân thiếu nước sinh hoạt đạt chuẩn. Vì vậy, bên cạnh nguồn vốn đầu tư công, Nghệ An cũng đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động thêm nguồn lực từ doanh nghiệp và các tổ chức để nâng cấp hệ thống cấp nước, đặc biệt tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước hoặc bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm nguồn nước.
Trong kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026–2030, nhiều dự án nâng cấp và mở rộng công trình cấp nước đã được đề xuất nhằm tăng công suất xử lý và mở rộng phạm vi phục vụ. Trong đó có dự án nâng cấp Nhà máy nước Hưng Lĩnh lên công suất 10.000 m³/ngày đêm, phục vụ khoảng 15.000 hộ dân; nâng cấp hệ thống cấp nước Long Thành (huyện Yên Thành) lên 8.500 m³/ngày đêm, đáp ứng nhu cầu cho khoảng 20.000 hộ.
Ngoài ra, tỉnh cũng dự kiến đầu tư xây dựng Nhà máy nước Nam Hưng – Nam Nghĩa – Nam Thái với công suất 8.000 m³/ngày đêm và nâng cấp Nhà máy nước Diễn Yên lên 6.000 m³/ngày đêm nhằm mở rộng mạng lưới cấp nước sạch cho khu vực nông thôn.
Song song với đầu tư hạ tầng, Nghệ An cũng khuyến khích các doanh nghiệp cấp nước áp dụng công nghệ mới trong quản lý và giám sát chất lượng nước. Các giải pháp như hệ thống quan trắc áp lực đường ống, giám sát chất lượng nước theo thời gian thực, ghi chỉ số công tơ tự động và quản lý dữ liệu cấp nước đang từng bước được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và bảo đảm chất lượng nước đầu ra.
Theo lãnh đạo tỉnh, việc nâng cao chất lượng nguồn nước sạch không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân mà còn là tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới bền vững. Vì vậy, các địa phương cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ cấp nước, đồng thời đẩy nhanh việc đấu nối hệ thống cấp nước tập trung đến các khu dân cư.
Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới và nâng công suất các công trình cấp nước, yêu cầu quan trọng đặt ra là nguồn nước sau xử lý phải được kiểm soát chặt chẽ theo các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành. Đây được xem là yếu tố then chốt để bảo đảm nước sạch cung cấp đến người dân đạt chất lượng ổn định và an toàn cho sức khỏe.
Theo đó, công tác kiểm soát chất lượng nước sinh hoạt hiện nay được thực hiện theo QCVN 01-1:2024/BYT về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt, do Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư số 52/2024/TT-BYT và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Quy chuẩn này được xây dựng nhằm siết chặt việc quản lý chất lượng nước, bảo đảm nguồn nước cung cấp cho người dân đáp ứng đầy đủ các tiêu chí an toàn về hóa học, vi sinh và cảm quan.
Theo quy định, chất lượng nước sạch dùng cho sinh hoạt được kiểm soát thông qua 99 thông số, chia thành hai nhóm chính. Nhóm A gồm 10 thông số cơ bản cần được giám sát thường xuyên như độ đục, pH, màu sắc, mùi vị, clo dư tự do, amoni, asen và các chỉ tiêu vi sinh như Coliform tổng số hoặc E.coli. Nhóm B gồm 89 thông số còn lại liên quan đến kim loại nặng, hợp chất hóa học và các chất có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Ngoài việc quy định giới hạn cho phép của từng thông số, quy chuẩn cũng yêu cầu các đơn vị cấp nước thực hiện nội kiểm, ngoại kiểm và giám sát chất lượng nước định kỳ, bảo đảm nước cung cấp đến người dân đạt chuẩn từ khâu khai thác, xử lý đến hệ thống phân phối. Đây được xem là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước và bảo đảm nguồn nước sinh hoạt an toàn, bền vững cho cộng đồng.
An Dương









