QUATEST 3 phát triển thành công quy trình xác định hàm lượng MEG và DEG

author 09:40 09/09/2026

(VietQ.vn) - Monoethylene Glycol (MEG) và Diethylene Glycol (DEG) là hai hợp chất có thể tồn dư trong quá trình tổng hợp nhựa PET, tiềm ẩn nguy cơ gây tổn thương đến gan, thận và hệ thần kinh nếu tích lũy quá mức. Nhằm kiểm soát hai hợp chất này trong vật liệu PET, các chuyên gia của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (QUATEST 3) đã nghiên cứu và phát triển thành công quy trình xác định hàm lượng MEG và DEG bằng kỹ thuật sắc ký khí.

Nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe từ hợp chất MEG và DEG

MEG và DEG là hai hợp chất hữu cơ dạng lỏng, không màu, không mùi và có vị ngọt nhẹ, thuộc nhóm glycol. MEG là nguyên liệu chính để sản xuất nhựa PET và sợi polyester. Trong quá trình tổng hợp nhựa PET, DEG có thể được tạo thành từ phản ứng trùng ngưng MEG.

Vì vậy, MEG và DEG tồn dư có nguy cơ thôi nhiễm vào thực phẩm trong quá trình sử dụng vật liệu PET, từ đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Các loại nhựa PET.

Theo quy định của EU, giới hạn thôi nhiễm áp dụng đối với MEG và DEG không được vượt quá 30 mg/kg thực phẩm.

Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng màng bọc, chai lọ và bao bì nhựa PET ngày càng gia tăng, kéo theo mối quan tâm về nguy cơ thôi nhiễm các hóa chất từ vật liệu bao bì vào thực phẩm. Đây là vấn đề được các nhà sản xuất và cơ quan quản lý đặc biệt quan tâm. Nếu MEG và DEG tồn dư trong quá trình tổng hợp nhựa PET vượt ngưỡng cho phép, việc thôi nhiễm vào thực phẩm có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe người tiêu dùng.

Kỹ thuật sắc ký khí giúp tối ưu chi phí cho khách hàng

Nhận thấy những mối nguy cơ trên ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, các chuyên gia của QUATEST 3 đã nghiên cứu và tìm giải pháp kiểm soát hàm lượng MEG và DEG đối với sản phẩm bao bì tiếp xúc thực phẩm. Giải pháp được QUATEST 3 nghiên cứu và áp dụng thành công đó là “xác định hàm lượng Monoethylene Glycol và Diethylene Glycol thôi nhiễm từ vật liệu tiếp xúc thực phẩm bằng kỹ thuật sắc ký khí”.

Kỹ thuật sắc ký khí (GC-FID) là phương pháp phổ biến trong phân tích các hợp chất dễ bay hơi như DEG và MEG. Tuy nhiên, theo phương pháp phân tích trước đây, kỹ thuật này cần sự hỗ trợ của buồng tiêm lạnh.

Với giải pháp GC-FID được nghiên cứu và phát triển bởi các chuyên gia của QUATEST 3 sẽ giúp khách hàng có thể tối ưu chi phí thử nghiệm. Thay vì thử nghiệm phải sử dụng hệ thống buồng tiêm lạnh “cold on-column” có chi phí đầu tư cao theo phương pháp trước đây, chuyên gia QUATEST 3 đã nghiên cứu thành công giải pháp thay thế: tối ưu kỹ thuật tiêm kết hợp với cột sắc ký phân cực mạnh DB-FFAP trên hệ thống GC-FID sẵn có.

Giải pháp này giúp giảm thiểu hiện tượng kéo đuôi pic, tạo đỉnh sắc ký đối xứng, sắc nét và nâng cao độ chính xác định lượng, qua đó góp phần tối ưu chi phí dịch vụ.

Thiết bị sắc ký khí ghép nối đầu dò ion hóa ngọn lửa (GC-FID)- Agilent 7890A Gas Chromatograph; Phân tích và định lượng các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và bán bay hơi.

Kỹ thuật mới cho phép áp dụng trên 04 nền mẫu mô phỏng thực phẩm theo quy định của EU. Quy trình mới đã hoàn thành hồ sơ xác nhận giá trị sử dụng, đáp ứng yêu cầu phân tích trên 4 môi trường giả lập đại diện cho các nhóm thực phẩm khác nhau trên thị trường như:

• Nước: Đại diện cho thực phẩm chứa nước (nước khoáng, trà, nước đường…).

• Acid acetic 3%: Đại diện cho các thực phẩm có tính axit như giấm ăn, nước ép trái cây có tính axit.

• Ethanol x%: Đại diện cho thực phẩm có cồn (rượu, bia, nước lên men…).

• Dầu thực vật: Đại diện cho thực phẩm chứa chất béo (dầu ăn, phô mai, kem béo…).

Cột DB-FFAP - Cột mao quản pha tĩnh polyethylene glycol (PEG) biến tính bằng acid có tính phân cực cao, phù hợp để tách các hợp chất phân cực như MEG và DEG.

Độ tin cậy của kết quả thử nghiệm: Phương pháp thử nghiệm được chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, với các chỉ số như giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ), độ lặp lại và độ thu hồi được đánh giá theo yêu cầu. Kết quả thử nghiệm từ QUATEST 3 góp phần cung cấp cơ sở tin cậy để doanh nghiệp đánh giá mức độ an toàn của vật liệu bao bì, hỗ trợ quá trình lưu hành sản phẩm trong nước và đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.

Từ các nghiên cứu như trên cho thấy, các chuyên gia của QUATEST 3 luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo, tìm tòi các giải pháp kỹ thuật tối ưu, tiết kiệm chi phí... hướng đến cung cấp các dịch vụ có lợi nhất cho khách hàng.

Huỳnh Thế Thiện

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang