TCVN 14399:2025 yêu cầu và phương pháp kiểm tra chất dẻo PET tái chế

author 08:51 05/09/2026

(VietQ.vn) - TCVN 14399:2025 đưa ra yêu cầu và phương pháp kiểm tra PET tái chế, góp phần kiểm soát chất lượng, nâng giá trị sản phẩm và thúc đẩy tái chế nhựa theo hướng bền vững.

Sự kiện: TCVN và QCVN - THÔNG TIN TOÀN CẢNH

Trong bối cảnh lượng sản phẩm nhựa sử dụng một lần ngày càng lớn, tái chế được xem là một trong những giải pháp giúp giảm lượng chất thải phải xử lý, đồng thời tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng so với việc sử dụng hoàn toàn nhựa nguyên sinh. Tuy nhiên, để nhựa sau sử dụng thực sự trở thành nguồn nguyên liệu có giá trị, quá trình thu gom, phân loại, làm sạch và tái chế cần được kiểm soát chặt chẽ.

Polyetylen terephtalat, thường được gọi là PET, là loại nhựa được sử dụng phổ biến để sản xuất chai đựng nước và đồ uống. Sau khi sử dụng, chai PET có thể được thu gom, nghiền, phân loại và làm sạch để tạo thành dạng vảy hoặc tiếp tục gia công thành hạt nhựa tái chế. Chất lượng của nguyên liệu đầu vào và quá trình xử lý có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm cuối cùng.

Theo TCVN 14399:2025, việc tái chế nhựa không chỉ nhằm giảm rác thải mà còn cần được xem xét trên toàn bộ vòng đời, từ khâu phát sinh chất thải, thu gom, phân loại, xử lý cho đến khi chất thải cuối cùng được thải bỏ. Tiêu chuẩn cũng lưu ý hoạt động tái chế cần có thị trường phù hợp và hệ thống thu gom, phân loại phải được thiết kế để cung cấp nguồn nguyên liệu đáp ứng công nghệ tái chế cũng như nhu cầu của thị trường.

Vật liệu PET tái chế nên đảm bảo theo tiêu chuẩn góp phần kiểm soát chất lượng, bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa

TCVN 14399:2025 áp dụng đối với vật liệu PET tái chế, nhưng không áp dụng cho vật liệu tái chế từ chất thải nguy hại như chất thải y tế, bao bì thuốc trừ sâu, chất gây ô nhiễm phóng xạ. Tiêu chuẩn cũng không áp dụng cho hỗn hợp nhựa PET tái chế với các loại chất dẻo khác.

Ngay từ yêu cầu chung, tiêu chuẩn đặt ra nguyên tắc thành phần chính của vật liệu phải là PET. Vật liệu không được có tạp chất hoặc vết dầu; dạng vảy, mảnh hoặc hạt phải có kích thước tương đối đồng đều và không có sự khác biệt rõ ràng về màu sắc. Đây là những yêu cầu quan trọng để bảo đảm nguyên liệu tái chế có chất lượng ổn định trước khi đưa vào các công đoạn sản xuất tiếp theo.

Đối với vảy PET dùng làm nguyên liệu tạo hạt, tiêu chuẩn đưa ra nhiều chỉ tiêu kiểm soát. Trong đó, hàm lượng hạt mịn và độ ẩm được xác định bằng phương pháp thử tương ứng; màu phải đồng nhất và trong suốt. Đáng chú ý, hàm lượng polyvinyl clorua (PVC) không được vượt quá 200 mg/kg, các polyolefin không vượt quá 100 mg/kg, dư lượng chất không phải PET không vượt quá 200 mg/kg và hàm lượng kim loại không vượt quá 200 mg/kg. Độ pH của nguyên liệu được quy định trong khoảng từ 6,5 đến 7,5.

Những yêu cầu này cho thấy việc tái chế PET không đơn giản là thu gom chai nhựa rồi nghiền nhỏ. Nguyên liệu phải trải qua quá trình phân loại và làm sạch để hạn chế các loại nhựa khác, kim loại, tạp chất và các chất có thể ảnh hưởng đến quá trình gia công. Việc kiểm soát tốt từ đầu cũng giúp doanh nghiệp ổn định chất lượng hạt nhựa sau tái chế.

Đối với hạt PET tái chế thành phẩm, TCVN 14399:2025 chia thành ba loại theo ứng dụng sản xuất gồm chai, định hình nhiệt và sợi. Mỗi loại có yêu cầu riêng về một số chỉ tiêu, qua đó tạo cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp của vật liệu với mục đích sử dụng.

Một trong những chỉ tiêu được quan tâm là độ nhớt nội tại (IV). Đối với hạt dùng sản xuất chai, giá trị này phải từ 0,72 dL/g trở lên; loại dùng cho định hình nhiệt từ 0,70 dL/g trở lên và loại dùng cho sản xuất sợi từ 0,50 dL/g trở lên. Khối lượng riêng đổ đống của cả ba loại phải từ 800 kg/m³ trở lên. Nhiệt độ nóng chảy được quy định trong khoảng 245 °C đến 260 °C.

Tiêu chuẩn cũng kiểm soát hàm lượng tro, độ ẩm, màu sắc và axetaldehyt. Hàm lượng tro của thành phẩm không được vượt quá 0,1%; độ ẩm không vượt quá 0,3% khối lượng. Với chỉ số màu, yêu cầu được phân theo từng nhóm sản phẩm. Chẳng hạn, hạt dùng sản xuất chai phải có độ sáng L từ 65 trở lên và chỉ số màu b không quá 3. Hàm lượng axetaldehyt cũng được giới hạn khác nhau, trong đó mức đối với hạt sản xuất chai không quá 2 mg/kg.

Bên cạnh các chỉ tiêu kỹ thuật, trách nhiệm kiểm soát chất lượng còn được đặt ra đối với nhà cung cấp. Nhà cung cấp phải có hồ sơ kiểm soát chất lượng đối với vật liệu đầu vào, quá trình sản xuất và thành phẩm; khi người mua yêu cầu phải cung cấp các hồ sơ này. Hai bên cũng cần thỏa thuận về thông số kỹ thuật, phạm vi giá trị hoặc độ lệch chuẩn giữa các lô vật liệu. Trường hợp người mua yêu cầu thông tin về thành phần hoặc nguồn gốc PET tái chế, nhà cung cấp phải cung cấp bằng chứng phù hợp.

Không dừng ở chất lượng bên trong, tiêu chuẩn còn quy định việc ghi nhãn và bảo quản sản phẩm. Nhãn bên ngoài bao bì phải thể hiện những thông tin cơ bản như số hiệu tiêu chuẩn, tên và địa chỉ nhà sản xuất, nguồn gốc xuất xứ, tên sản phẩm, số lô và ngày sản xuất, hàm lượng tái chế, khối lượng tịnh; đồng thời phải thể hiện rõ cụm từ “vật liệu tái chế” hoặc “REC”.

Bao bì phải bảo đảm vật liệu bên trong không bị nhiễm bẩn hoặc thất thoát trong quá trình vận chuyển, xếp chồng và bảo quản. Khi vận chuyển, không sử dụng dụng cụ sắc nhọn để bốc dỡ, không quăng hoặc ném mạnh; phương tiện phải sạch, khô và có che chắn. PET tái chế cũng không được để lẫn với cát, kim loại vụn, than đá, thủy tinh hay các chất độc hại, ăn mòn, dễ cháy và phải tránh phơi nắng, dầm mưa. Khi bảo quản, vật liệu cần được đặt trong kho sạch, khô, thông thoáng, có thiết bị phòng cháy chữa cháy và tránh xa nguồn nhiệt, ánh nắng trực tiếp.

Với hệ thống yêu cầu từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm, ghi nhãn, vận chuyển và bảo quản, TCVN 14399:2025 tạo ra cơ sở kỹ thuật thống nhất để kiểm soát chất lượng PET tái chế. Qua đó, hoạt động tái chế không chỉ hướng đến giảm lượng rác thải nhựa mà còn góp phần biến chất thải sau sử dụng thành nguồn nguyên liệu có chất lượng, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và thị trường.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang