TCVN 14491:2025 Hỗn hợp nhựa nóng – Phương pháp ổn định mẫu trong phòng thí nghiệm

author 07:06 03/01/2026

(VietQ.vn) - Nghiên cứu và thử nghiệm hỗn hợp nhựa nóng chưa được chuẩn hóa chặt chẽ có thể dẫn tới sai số đánh giá chất lượng đường. Tiêu chuẩn TCVN 14491:2025 đưa ra phương pháp ổn định mẫu trong phòng thí nghiệm để đánh giá chính xác độ bền và độ ổn định.

Hỗn hợp nhựa nóng là vật liệu chủ đạo trong thi công và duy tu mặt đường giao thông hiện đại, từ đường quốc lộ, cao tốc đến các tuyến đường đô thị. Chất lượng của bê tông nhựa nóng ảnh hưởng trực tiếp tới độ bền chịu tải, khả năng chống lún và chống nứt, từ đó quyết định tuổi thọ và an toàn của tuyến đường. Để đánh giá đầy đủ hiệu năng của hỗn hợp này, công tác thử nghiệm trong phòng thí nghiệm phải mô phỏng chính xác điều kiện thực tế và lồng ghép các yếu tố tác động trong quá trình thi công và khai thác.

Tuy nhiên, trước khi có tiêu chuẩn mới, việc ổn định mẫu hỗn hợp nhựa nóng trong phòng thí nghiệm tại nhiều cơ sở chưa thống nhất dẫn đến kết quả thử nghiệm khác nhau, gây khó khăn cho việc so sánh và đánh giá chất lượng vật liệu giữa các đơn vị thi công và cơ quan giám sát. Sai số này có thể dẫn tới quyết định kỹ thuật không phù hợp, ảnh hưởng tới chất lượng mặt đường sau thi công.

Thực hiện phương pháp ổn định mẫu hỗn hợp nhựa nóng trong phòng thí nghiệm nên đáp ứng theo tiêu chuẩn. Ảnh minh họa

Đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa về thử nghiệm trong lĩnh vực vật liệu đường bộ, Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 14491:2025 đã được ban hành, với tên tiếng Việt “Hỗn hợp nhựa nóng – Phương pháp ổn định mẫu trong phòng thí nghiệm”. Tiêu chuẩn này là bản tương đương AASHTO R30:2022, quy định rõ quy trình ổn định mẫu hỗn hợp nhựa nóng trong phòng thử nghiệm nhằm đảm bảo các mẫu thử có đặc tính đồng nhất và phản ánh đúng điều kiện thi công, trước khi tiến hành các phép thử cơ học khác.

Theo TCVN 14491:2025, phạm vi áp dụng bao gồm việc ổn định mẫu hỗn hợp nhựa nóng đã được đầm nén hoặc ở trạng thái rời (chưa đầm nén). Quy trình này chia thành hai phần chính: ổn định mẫu ngắn hạn và ổn định mẫu dài hạn. Ổn định mẫu ngắn hạn được thực hiện chủ yếu để thử các chỉ tiêu cơ học và đặc tính thể tích của hỗn hợp trong giai đoạn trước khi đầm nén, phản ánh tình trạng vật liệu chuẩn bị trước khi thi công. Trong khi đó, ổn định mẫu dài hạn hướng tới mô phỏng quá trình lão hóa hóa học và vật lý xảy ra trên lớp bê tông nhựa nóng trong vòng 1–3 năm đầu khai thác thực tế, giúp đánh giá đặc tính biến đổi theo thời gian của hỗn hợp nhựa.

Tiêu chuẩn cũng nêu rõ các thiết bị cần thiết, điều kiện an toàn và phương pháp báo cáo kết quả. Đó là yêu cầu đối với buồng sấy, nhiệt kế, dao trộn và các dụng cụ khác nhằm duy trì sai số trong giới hạn cho phép, đảm bảo tính lặp lại và độ chính xác của phép thử. Những chi tiết kỹ thuật này giúp phòng thí nghiệm tránh được sai lệch do thiết bị, nhiệt độ hoặc thời gian thực hiện.

Việc áp dụng TCVN 14491:2025 mang lại nhiều lợi ích rõ rệt cho ngành vật liệu đường bộ. Trước hết, nó tạo ra một khung pháp lý và kỹ thuật chung cho các phòng thí nghiệm trong nước khi tiến hành ổn định mẫu hỗn hợp nhựa nóng, giúp loại bỏ sự khác biệt do quy trình thử khác nhau. Điều này hỗ trợ cho các nhà thiết kế, cơ quan giám sát và nhà thầu trong việc đối chiếu kết quả thử nghiệm một cách thống nhất, phục vụ quyết định kỹ thuật và nghiệm thu công trình.

Thứ hai, tiêu chuẩn giúp nâng cao độ tin cậy của quá trình kiểm tra chất lượng vật liệu, từ đó góp phần giảm thiểu rủi ro liên quan tới hư hỏng sớm của mặt đường như nứt, lún hay biến dạng do tải trọng. Kết quả thử nghiệm chính xác hơn cũng giúp tối ưu hóa thiết kế hỗn hợp, tiết kiệm chi phí thi công và bảo trì.

Cuối cùng, TCVN 14491:2025 là một bước quan trọng trong hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với các chuẩn quốc tế, tạo điều kiện cho vật liệu xây dựng đường bộ Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập, phục vụ các dự án hợp tác quốc tế và nâng cao uy tín trong kiểm soát chất lượng.

Việc phổ biến và tuân thủ tiêu chuẩn này không chỉ cải thiện hiệu quả thi công và chất lượng mặt đường trong nước, mà còn góp phần xây dựng nền hạ tầng giao thông bền vững, an toàn và phù hợp với xu hướng phát triển kỹ thuật hiện đại trong xây dựng giao thông.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang