TCVN 14611:2026 về chuẩn hóa phương pháp đo tính năng của máy rửa bát

author 06:10 13/08/2026

(VietQ.vn) - TCVN 14611:2026 thiết lập phương pháp đo thống nhất đối với máy rửa bát sử dụng điện trong gia đình, tạo cơ sở kỹ thuật để đánh giá và so sánh tính năng sản phẩm một cách khách quan.

TCVN 14611:2026 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/E1 Máy điện và khí cụ điện biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định và Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tương đương với IEC 60436:2025 – Máy rửa bát sử dụng điện dùng trong gia đình – Phương pháp đo tính năng.

Tiêu chuẩn áp dụng cho máy rửa bát sử dụng điện dùng trong gia đình và các mục đích tương tự, sử dụng nguồn cấp nước nóng và/hoặc nước lạnh. Mục tiêu chính là xác định những đặc tính tính năng quan trọng và đưa ra phương pháp tiêu chuẩn để đo các đặc tính này. Theo đó, TCVN 14611:2026 không đề cập đến vấn đề an toàn và cũng không quy định mức tính năng tối thiểu. Nói cách khác, đây là tiêu chuẩn về phương pháp đo và đánh giá tính năng, không phải tiêu chuẩn đặt ra “ngưỡng đạt – không đạt” về hiệu suất của máy.

Một trong những nội dung trọng tâm của TCVN 14611:2026 là xây dựng điều kiện thử nghiệm đủ chặt chẽ để kết quả giữa các thiết bị có khả năng so sánh. Tiêu chuẩn phân biệt rõ máy rửa bát độc lập, máy âm tủ, máy tích hợp, máy thử nghiệm và máy tham chiếu. Trong đó, máy tham chiếu là thiết bị có tính năng đã biết, được sử dụng để chuẩn hóa phép đo tính năng rửa và sấy. Dung tích danh định cũng được xác định dựa trên số lượng bộ đồ ăn cho một người cùng dụng cụ phục vụ ăn uống mà máy có thể rửa và sấy trong một chu trình khi xếp theo hướng dẫn của nhà chế tạo.

TCVN 14611:2026 thiết lập phương pháp đo thống nhất đối với máy rửa bát

Trước khi thực hiện phép thử tính năng, máy phải được vận hành ít nhất ba chu trình với chương trình phù hợp cho đồ dùng ăn uống bẩn trung bình hoặc nặng, sử dụng chất tẩy rửa tham chiếu và chất làm bóng chuẩn. Đây là bước nhằm loại bỏ cặn bẩn có thể tồn tại từ quá trình sản xuất. Nếu cần đo tiếng ồn, phép đo này được thực hiện trước các thử nghiệm tính năng khác.

Điểm đáng chú ý là phép thử không đơn giản bằng cách đưa một số bát đĩa sử dụng thông thường vào máy rồi quan sát kết quả. TCVN 14611:2026 quy định khá chi tiết việc chuẩn bị tải bẩn, các loại vật dụng và chất bẩn thử nghiệm nhằm tạo điều kiện đánh giá có khả năng lặp lại. Các mẫu thử có thể bao gồm đĩa, tách, cốc, ly, dao, thìa, nồi nhỏ, bát thủy tinh, đĩa bầu dục và các dụng cụ phục vụ ăn uống. Những chất bẩn thử nghiệm được chuẩn bị theo quy trình xác định, trong đó có trà, trứng, hỗn hợp thịt băm và bơ thực vật.

Việc chuẩn bị mẫu cũng được kiểm soát kỹ. Chẳng hạn, đối với một số vật dụng sau khi được làm bẩn, tiêu chuẩn quy định quy trình sấy bằng tủ gia nhiệt ở 80°C; tải sau quá trình sấy phải được để nguội trong điều kiện môi trường quy định trước khi đưa vào thử nghiệm. Những yêu cầu tưởng như rất chi tiết này có ý nghĩa quan trọng trong thử nghiệm: nếu mức độ khô, độ bám hoặc trạng thái chất bẩn khác nhau thì khả năng làm sạch của hai máy sẽ khó được so sánh trên cùng một mặt bằng.

TCVN 14611:2026 yêu cầu tính năng rửa và tính năng sấy được đánh giá liên tiếp trong cùng một lần vận hành thử nghiệm. Đồng thời, việc xác định tiêu thụ năng lượng, lượng nước và thời gian chương trình được thực hiện cùng với phép thử kết hợp rửa và sấy. Cách tiếp cận này giúp kết quả phản ánh đồng bộ hoạt động của thiết bị trong cùng điều kiện thử nghiệm.

Để hạn chế yếu tố chủ quan khi đánh giá, tiêu chuẩn đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với môi trường thử nghiệm. Điện áp thử nghiệm phải được thiết lập theo điện áp danh định của máy và duy trì trong phạm vi ±1%; tần số nguồn được đặt ở 50 Hz và cũng duy trì trong phạm vi ±1%. Nhiệt độ phòng đối với các phép thử liên quan được duy trì ở 23 ± 2°C, độ ẩm tương đối 55 ± 10%. Chương trình thử nghiệm thông thường là chương trình được nhà chế tạo khuyến nghị cho tải bẩn thông thường; cùng một chương trình phải được sử dụng để đo tính năng rửa – sấy, điện năng, nước, thời gian chương trình và tiếng ồn nếu thực hiện phép đo này.

Đối với đánh giá tính năng rửa và sấy, tiêu chuẩn yêu cầu điều kiện chiếu sáng tại vị trí đánh giá tránh gây chói trực tiếp, độ rọi từ 1.000 lux đến 1.500 lux, nhiệt độ màu của ánh sáng khuếch tán từ 3.500 K đến 4.500 K. Mỗi lần thử, việc đánh giá sấy phải do một người đánh giá duy nhất thực hiện; nguyên tắc tương tự áp dụng với đánh giá khả năng rửa.

Với tính năng sấy, từng vật dụng được kiểm tra dấu vết nước còn lại. Việc đánh giá phải tiến hành ngay gần máy thử nghiệm để tránh bát đĩa tiếp tục khô trong quá trình di chuyển, làm sai lệch kết quả. Tiêu chuẩn thiết lập hệ thống chấm điểm dựa trên tình trạng nước dư và sử dụng kết quả này để tính toán chỉ số tính năng sấy. Hồ sơ đánh giá có thể ghi đến từng vật dụng trong từng lần thử, qua đó tăng khả năng truy xuất kết quả.

Một điểm quan trọng khác là tiêu chuẩn dành riêng nội dung cho tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ nước và thời gian chương trình, đồng thời quy định phương pháp xác định tiếng ồn phát ra trong không khí. Điều này cho thấy đánh giá tính năng máy rửa bát không dừng ở câu hỏi “rửa có sạch hay không”, mà còn xem xét những thông số trực tiếp liên quan đến chi phí sử dụng và trải nghiệm của người tiêu dùng.

TCVN 14611:2026 cũng tính đến những chức năng chỉ xuất hiện gián đoạn trong quá trình vận hành, chẳng hạn hoạt động tái sinh bộ làm mềm nước. Những chức năng này có thể khiến lượng nước, năng lượng hoặc thời gian đo trong một số chu trình tăng lên và làm kết quả của loạt thử nghiệm khác với mức trung bình dài hạn. Tiêu chuẩn vì vậy đưa ra phương án xử lý dữ liệu hoặc mở rộng loạt thử nghiệm nhằm nâng cao khả năng tái lập của kết quả.

Bảo Linh

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang