Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp- Giải pháp thúc đẩy sản xuất xanh và Net-zero
(VietQ.vn) - Khí tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ phát triển công nghiệp và góp phần giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với các loại nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Phát triển và sử dụng khí tự nhiên trong công nghiệp sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất xanh và Net-zero vào năm 2050.
Nguồn năng lượng chuyển tiếp trong quá trình chuyển dịch theo hướng sản xuất xanh
Tại Hội thảo khoa học “Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp- hướng tới sản xuất xanh và Net-zero 2050” diễn ra ngày 22/1/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia cho biết, khí tự nhiên là một nguồn năng lượng chuyển tiếp có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng. So với than và dầu, khí tự nhiên có cường độ phát thải CO thấp hơn, ít phát thải các chất ô nhiễm cục bộ và phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu suất năng lượng trong sản xuất công nghiệp.

Hội thảo khoa học “Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp- hướng tới sản xuất xanh và Net-zero 2050” ngày 22/1/2026
Với Việt Nam, khí tự nhiên không chỉ là nhiên liệu cho phát điện mà còn là đầu vào quan trọng của một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, phân bón, hóa chất. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng theo hướng sản xuất xanh thì nhu cầu sử dụng khí tự nhiên càng tăng cao.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Khắc Quyền- Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách (Bộ Công Thương)- cho biết, khí tự nhiên có nhu cầu lớn trong sản xuất điện và một số ngành công nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng theo hướng sản xuất xanh thì nhu cầu sử dụng khí tự nhiên càng tăng cao. Theo dự thảo báo cáo Điều chỉnh quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tổng tiêu thụ khí trong giai đoạn 2021-2024 dao động trong khoảng 1.900 - 2.100 KTOE.
Xét theo cơ cấu sử dụng, lĩnh vực điện lực là nhóm tiêu thụ khí tự nhiên lớn nhất, chiếm khoảng 65 - 70% tổng sản lượng khí thương phẩm hằng năm. Phần còn lại khoảng 30 - 35% được sử dụng trong các ngành công nghiệp ngoài điện lực, trong đó chủ yếu là sản xuất phân bón, hóa chất và một số ngành công nghiệp chế biến.
Khí tự nhiên của Việt Nam hiện đang được khai thác tại 26 mỏ khí, mỏ dầu - khí đồng hành, chiếm 50% trữ lượng khí đã phát hiện tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2010 - 2015, Việt Nam đạt đỉnh về khai thác khí tự nhiên với sản lượng khoảng 10 - 11 tỷ m³/năm, chủ yếu từ các mỏ tại bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay - Thổ Chu.
Tuy nhiên, từ sau năm 2016, sản lượng khí nội địa có xu hướng suy giảm rõ rệt do nhiều mỏ khí bước vào giai đoạn suy kiệt tự nhiên, trong khi các mỏ mới có quy mô nhỏ và tiến độ phát triển chậm. Giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng khí khai thác chỉ còn khoảng 5,95 - 8,08 tỷ m³/năm và được dự báo tiếp tục giảm trong giai đoạn tới nếu không có các dự án khí mới được đưa vào khai thác đúng tiến độ.
Trong bối cảnh sản lượng khí tự nhiên khai thác trong nước suy giảm, trong khi nhu cầu khí cho phát điện và sản xuất công nghiệp tiếp tục gia tăng, Việt Nam đã từng bước mở rộng nhập khẩu LNG, với lô LNG đầu tiên cập cảng Thị Vải vào tháng 7/2023, đánh dấu sự chuyển dịch từ mô hình phụ thuộc chủ yếu vào khí nội địa sang kết hợp khí trong nước và khí nhập khẩu.
Đáng chú ý, đến tháng 1/2026, Việt Nam đã ký hợp đồng LNG dài hạn đầu tiên giữa PV Gas và Shell cho giai đoạn 2027 - 2031, tạo nền tảng ổn định hơn cho nguồn cung khí trong trung và dài hạn. Theo dự báo, lượng LNG nhập khẩu sẽ tăng nhanh trong giai đoạn từ nay đến 2035 khi Việt Nam đưa vào vận hành các nhà máy điện khí LNG.
.jpg)
Hệ thống khí Hàm Rồng của Tổng công ty Khí Việt Nam - PV GAS
Mở rộng sử dụng khí tự nhiên trong các ngành công nghiệp
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe, việc chuyển đổi năng lượng xanh không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu bắt buộc. Theo ông Mai Duy Thiện- Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam nhấn mạnh, quá trình chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào năng lượng hóa thạch sang tăng trưởng xanh của Việt Nam là con đường tất yếu để vừa đáp ứng cam kết quốc tế, vừa bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo các dự báo triển vọng năng lượng, từ nay đến năm 2050, nhu cầu năng lượng của Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp, dân dụng và dịch vụ, sẽ tăng mạnh, tạo áp lực lớn lên hệ thống cung ứng cũng như mục tiêu giảm phát thải. Trong khi đó, Việt Nam lại thuộc nhóm quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, với thiệt hại kinh tế ước tính tương đương khoảng 3% GDP mỗi năm. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc hệ thống năng lượng theo hướng xanh, sạch và bền vững hơn.
Theo ông Nguyễn Khắc Quyền, thời gian qua, khí tự nhiên đã khẳng định vị thế là một trong những nguồn năng lượng trụ cột của hệ thống năng lượng quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ phát triển công nghiệp và góp phần giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với các loại nhiên liệu hóa thạch truyền thống.
“Việc khai thác và sử dụng hiệu quả khí tự nhiên đã thúc đẩy hình thành và phát triển các trung tâm công nghiệp năng lượng quy mô lớn, đặc biệt là các tổ hợp điện - đạm - hóa chất, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, gia tăng giá trị và tính liên kết trong chuỗi công nghiệp năng lượng”- ông Quyền cho hay.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các chuyên gia cũng chỉ ra nhiều thách thức như suy giảm nguồn khí nội địa, phụ thuộc vào LNG nhập khẩu, hạ tầng khí và LNG chưa đồng bộ, cùng cơ chế chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển thị trường.
Trên cơ sở đó, hội thảo thống nhất định hướng phát triển khí tự nhiên theo hướng ổn định, linh hoạt, gắn với phát triển điện khí LNG, mở rộng sử dụng khí trong các ngành công nghiệp ngoài điện lực và chuẩn bị điều kiện tích hợp các loại nhiên liệu phát thải thấp hơn như khí xanh và hydrogen.
Một nội dung được đặc biệt quan tâm tại hội thảo là kết nối hạ tầng khí với các khu công nghiệp, khu kinh tế. Theo TS. Nguyễn Quốc Thập- Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, đây là điều kiện then chốt để thúc đẩy công nghiệp xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khí tự nhiên và LNG không chỉ phục vụ điện, nhiệt mà còn là nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp nền tảng. Tuy nhiên, hiện nay hạ tầng khí chủ yếu phục vụ điện và đạm, trong khi kết nối trực tiếp tới các khu công nghiệp còn hạn chế.
Hơn nữa, cơ chế, chính sách cho phát triển ngành công nghiệp khí và thị trường LNG còn thiếu đồng bộ và ổn định. Một số quy định về giá khí, cơ chế hợp đồng dài hạn, phân bổ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào chuỗi giá trị khí chưa thực sự theo kịp yêu cầu phát triển thị trường theo hướng cạnh tranh, minh bạch và hội nhập quốc tế.
Để khắc phục, các chuyên gia đề xuất phát triển đồng bộ hạ tầng khí - điện - khu công nghiệp; triển khai các mô hình kết nối linh hoạt như đường ống trực tiếp, LNG vệ tinh và trung tâm năng lượng tích hợp; đồng thời đưa hạ tầng khí vào danh mục hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp, khu kinh tế, đi kèm các cơ chế PPP (đầu tư theo hình thức đối tác công tư) và hợp đồng mua khí dài hạn.
Đặc biệt, cần hoàn thiện khung thể chế, chính sách cho phát triển và sử dụng khí tự nhiên trong công nghiệp. Theo đó, rà soát, điều chỉnh và thống nhất các quy định pháp luật liên quan đến toàn bộ chuỗi công nghiệp khí từ thăm dò, khai thác, thu gom, vận chuyển, chế biến, dự trữ đến phân phối và nhập khẩu LNG. Trọng tâm là loại bỏ các điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, phân định rõ vai trò quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh, tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo dài hạn cho nhà đầu tư. Đồng thời, cần sớm ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ cho hệ thống khí và LNG, làm cơ sở cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ khí trong công nghiệp.
Với sự tham gia của các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia đầu ngành và cộng đồng doanh nghiệp, khoa học “Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp- hướng tới sản xuất xanh và Net-zero 2050” được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần lan tỏa các giải pháp khả thi, thúc đẩy ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp, qua đó hiện thực hóa mục tiêu sản xuất xanh và Net Zero 2050 của Việt Nam.
Khí tự nhiên được nhiều quốc gia xem là nguồn nhiên liệu chuyển tiếp quan trọng nhờ đặc tính phát thải thấp hơn so với than và dầu, đồng thời phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Việc ứng dụng khí tự nhiên trong sản xuất công nghiệp không chỉ góp phần giảm phát thải, cải thiện môi trường mà còn tạo điều kiện tích hợp các công nghệ năng lượng mới trong tương lai.
Lê Kim Liên









