Bước chuyển tư duy quản lý hàng hóa từ ‘kiểm tra dàn đều’ sang ‘quản lý theo rủi ro’

author 08:15 26/03/2026

(VietQ.vn) - Luật số 78/2025/QH15 và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam. Từ mô hình “kiểm soát đầu vào, kiểm tra dàn đều”, hệ thống quản lý đang chuyển sang quản lý theo rủi ro, dựa trên dữ liệu số, tăng hậu kiểm và minh bạch thông tin.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và sự mở rộng của thị trường hàng hóa, công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam đứng trước nhiều yêu cầu mới. Sự gia tăng về số lượng, chủng loại sản phẩm, đặc biệt trong môi trường thương mại điện tử và chuỗi cung ứng toàn cầu khiến các phương thức quản lý truyền thống dần bộc lộ hạn chế, nhất là khi còn nặng về tiền kiểm, thiếu linh hoạt và chưa tận dụng hiệu quả dữ liệu số. Thực tiễn đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý mới theo hướng hiện đại.

Trên cơ sở này, ngày 18/6/2025, Quốc hội đã thông qua Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Để bảo đảm các quy định của Luật được triển khai đồng bộ, hiệu quả trong thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, tạo nền tảng quan trọng cho việc đổi mới toàn diện công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong giai đoạn mới.

Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Trưởng ban Ban Quản lý chất lượng và Đánh giá sự phù hợp. (Ảnh: Thanh Tùng)

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Chất lượng Việt Nam về một số quan điểm và nội dung mới trong quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa, bà Nguyễn Thị Mai Hương - Trưởng ban Ban Quản lý chất lượng và Đánh giá sự phù hợp (Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia) khẳng định, trọng tâm cốt lõi của Luật và Nghị định 37 chính là chuyển mạnh sang quản lý theo rủi ro, số hóa dữ liệu, tăng hậu kiểm và minh bạch thông tin chất lượng. Những thay đổi này được thể hiện rõ qua 5 điểm mới nổi bật.

Quản lý theo rủi ro

Điểm mới thứ nhất là chuyển mạnh sang quản lý theo rủi ro. Đây là thay đổi có tính nền tảng, chi phối cách phân loại hàng hóa và cách kiểm tra.

Thay vì quản lý "dàn đều" như trước đây, sản phẩm hàng hóa sẽ được phân loại dựa trên đánh giá rủi ro theo 3 mức độ: Rủi ro thấp - Doanh nghiệp tự công bố và tự chịu trách nhiệm; Rủi ro trung bình - Doanh nghiệp được chọn tự công bố hoặc đánh giá bởi bên thứ ba được công nhận; kết quả thử nghiệm phải từ phòng thử nghiệm được chỉ định; Rủi ro cao - Quản lý chặt chẽ thông qua các tổ chức chứng nhận được chỉ định, thực hiện kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất.

Hàm ý của việc này là thiết kế các biện pháp quản lý tương xứng với từng mối nguy để giảm gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Thiết lập hạ tầng chất lượng quốc gia trên nền tảng số

Điểm mới thứ hai là thiết lập hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) trên nền tảng số. Thay vì vận hành rời rạc, các cấu phần như tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự phù hợp; mã số mã vạch; truy xuất nguồn gốc; nhãn điện tử; nguồn nhân lực và hoạt động kiểm tra, giám sát sẽ được kết nối thành hệ sinh thái thống nhất. Đây là bước tiến quan trọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số.

Tăng cường minh bạch thông tin thông qua công nghệ

Điểm mới thứ ba là tăng cường minh bạch thông tin qua công nghệ. Luật và Nghị định mới bổ sung các hành lang pháp lý cho các công cụ quản lý hiện đại, gồm: Nhãn điện tử: Thừa nhận nhãn điện tử như một dạng thông tin hàng hóa, gắn với vật mang dữ liệu như QR, RFID, NFC...; Truy xuất nguồn gốc: Theo dõi, giám sát kiểu loại/lô/đơn vị hàng hóa theo thời gian và địa điểm qua từng công đoạn; Mã số mã vạch: Khuyến khích ứng dụng trong quản lý chất lượng và truy xuất; tạo chuẩn định danh và chia sẻ dữ liệu; Hộ chiếu số: Mở đường cho mô hình quản lý thông tin hàng hóa toàn vòng đời, phục vụ thị trường số và chuỗi cung ứng hiện đại.

Đổi mới kiểm tra chất lượng theo hướng hậu kiểm, trọng điểm

Điểm mới thứ tư là đổi mới kiểm tra chất lượng theo hướng hậu kiểm, trọng điểm. Kiểm tra không chỉ ở khâu nhập khẩu mà được nối dài đến lưu thông trên thị trường và cảnh báo sớm.

Một số điểm đáng chú ý là: Cho phép miễn hoặc giảm kiểm tra đối với trường hợp đáp ứng điều kiện và có lịch sử tuân thủ tốt; Tăng trách nhiệm báo cáo, lưu hồ sơ, cập nhật dữ liệu và chấp hành hậu kiểm của doanh nghiệp; Đối với hàng lưu thông trên thị trường, cơ quan quản lý có thể kiểm tra trọng điểm, lấy mẫu định kỳ hoặc đột xuất với nhóm rủi ro cao.

Tăng cường chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm phối hợp

Điểm mới thứ 5 là tăng cường chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm phối hợp. Nghị định 37 đã làm rõ vai trò đầu mối, cập nhật dữ liệu và vai trò của các bộ, địa phương, cơ quan liên quan. Trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ là đầu mối xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu và nền tảng số; Giám sát thống nhất việc xác định và quản lý rủi ro; Chủ trì cổng thông tin truy xuất nguồn gốc và quản lý nhà nước về nhãn điện tử. 

Bộ quản lý ngành, lĩnh vực: Rà soát, ban hành danh mục hàng hóa rủi ro trung bình/cao; Cập nhật dữ liệu kiểm tra, giám sát, hậu kiểm, cảnh báo; Phối hợp trong kiểm tra và tránh chồng chéo. Về phía địa phương, cơ quan thực thi sẽ tổ chức triển khai, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra và xử lý vi phạm; Khai thác dữ liệu để cảnh báo, hậu kiểm, bảo vệ người tiêu dùng; Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Tác động với 3 bên liên quan

Những thay đổi này tạo ra tác động sâu rộng đối với các bên liên quan. Thứ nhất đối với cơ quan quản lý, phải chuyển từ quản lý hành chính thuần túy sang quản trị rủi ro và dữ liệu; Cần chuẩn hóa danh mục hàng hóa rủi ro, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế phối hợp liên ngành; Đầu tư hạ tầng số, quy trình cập nhật dữ liệu, cảnh báo sớm và hậu kiểm có trọng điểm.

Thứ hai đối với doanh nghiệp, cần chủ động kiểm soát chất lượng theo chuỗi, hồ sơ kỹ thuật và thông tin trên nhãn; Tăng trách nhiệm truy xuất nguồn gốc, cập nhật dữ liệu và chứng minh mức độ tuân thủ. Ngược lại, doanh nghiệp tuân thủ tốt có cơ hội được giảm gánh nặng kiểm tra, rút ngắn thời gian thủ tục.

Đối với người tiêu dùng và xã hội sẽ có thêm kênh tra cứu, phản ánh, khiếu nại và tiếp cận thông tin chất lượng; Minh bạch hơn nhờ nhãn điện tử, truy xuất nguồn gốc và công khai vi phạm; Được bảo vệ tốt hơn qua cơ chế cảnh báo sớm và quản lý dựa trên rủi ro; Đặc biệt, người tiêu dùng có thể tham gia vào hệ thống giám sát chất lượng quốc gia.

Bà Nguyễn Thị Mai Hương nhấn mạnh: “Luật số 78/2025/QH15 và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam. Từ mô hình “kiểm soát đầu vào, kiểm tra dàn đều”, hệ thống quản lý đang chuyển sang “quản lý theo rủi ro, dựa trên dữ liệu số, tăng hậu kiểm và minh bạch thông tin”. Trong đó, quản lý theo rủi ro và trục chính, dữ liệu số là công cụ thực thi; còn hậu kiểm và minh bạch chính là xu hướng”.

Hoàng Bách

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang