ISO 6319: Tiêu chuẩn quốc tế mới về làm sạch thân tàu nhằm bảo vệ môi trường biển
(VietQ.vn) - Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế vừa ban hành ISO 6319, tiêu chuẩn toàn cầu đầu tiên hướng dẫn việc thực hiện và ghi chép hoạt động làm sạch sinh vật bám trên thân tàu.
Sự kiện: QCVN, TCVN: Tiêu chuẩn mới - Tương lai mới
Tiêu chuẩn mới hỗ trợ thiết kế và thử nghiệm kết cấu composite
Giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng
Tiêu chuẩn về kiểm toán hệ thống trí tuệ nhân tạo
Nhằm tạo ra khung hướng dẫn thống nhất làm giảm sức ép ngày càng lớn về giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái đại dương, việc kiểm soát sinh vật bám trên thân tàu, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã công bố ISO 6319 – tiêu chuẩn về thực hiện và ghi chép việc làm sạch sinh vật bám trên thân tàu trong nước.
Sự ra đời của tiêu chuẩn này được xem là bước tiến quan trọng trong quản lý môi trường hàng hải, bởi lâu nay việc làm sạch thân tàu vẫn được thực hiện theo các quy định khác nhau giữa các cảng biển và quốc gia. Thiếu một chuẩn chung khiến nhiều hoạt động vệ sinh thân tàu gặp khó khăn trong việc xin phép, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường biển.
Sinh vật bám trên thân tàu là hiện tượng phổ biến trong hoạt động hàng hải. Sau một thời gian vận hành, các bề mặt ngập nước của tàu có thể bị phủ bởi tảo, hàu, vi khuẩn hoặc các sinh vật biển khác. Lớp sinh vật này làm tăng lực cản của nước đối với thân tàu, khiến tàu tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn và làm gia tăng phát thải khí nhà kính. Không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành, biofouling còn là con đường quan trọng khiến các loài sinh vật ngoại lai di chuyển từ vùng biển này sang vùng biển khác, gây xáo trộn hệ sinh thái địa phương.
Tiêu chuẩn mới giúp các cơ quan quản lý cảng, chủ tàu và nhà khai thác tàu nắm rõ các quy định về cách làm sạch tàu sao cho thân thiện với môi trường
Chính vì vậy, việc làm sạch thân tàu định kỳ được coi là giải pháp cần thiết nhằm duy trì hiệu suất hoạt động của tàu và giảm thiểu tác động môi trường. Tuy nhiên, quá trình làm sạch cũng có thể khiến các sinh vật và lớp sơn chống hà bong ra, phát tán vào môi trường nước nếu không được kiểm soát phù hợp. Đây là lý do các cơ quan quản lý và ngành hàng hải quốc tế thúc đẩy xây dựng một tiêu chuẩn thống nhất cho hoạt động này.
ISO 6319 được thiết kế để giải quyết khoảng trống đó. Tiêu chuẩn đưa ra hướng dẫn chi tiết cho toàn bộ quy trình làm sạch thân tàu trong nước, từ khâu lập kế hoạch, đánh giá điều kiện thực hiện đến triển khai kỹ thuật và ghi chép dữ liệu sau khi hoàn thành. Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn bao gồm tất cả các bề mặt ngập nước bên ngoài của tàu, không chỉ phần thân tàu chính mà còn cả những khu vực phức tạp như chân vịt, bánh lái hay các hốc kỹ thuật.
Một điểm đáng chú ý của ISO 6319 là yêu cầu về hệ thống tài liệu và báo cáo. Tiêu chuẩn quy định rõ các thông tin cần được ghi lại trước, trong và sau quá trình làm sạch, bao gồm tình trạng sinh vật bám, phương pháp làm sạch được sử dụng, thiết bị và công nghệ áp dụng cũng như các biện pháp kiểm soát môi trường. Những dữ liệu này giúp cơ quan quản lý và cảng biển có cơ sở đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả của hoạt động vệ sinh thân tàu.
Bên cạnh đó, ISO 6319 cũng đề cập đến các công nghệ làm sạch khác nhau, từ phương pháp cơ học đến các hệ thống làm sạch có tích hợp cơ chế thu gom sinh vật và chất thải. Việc chuẩn hóa các yêu cầu kỹ thuật không chỉ giúp nâng cao hiệu quả làm sạch mà còn góp phần hạn chế nguy cơ phát tán sinh vật ngoại lai vào môi trường biển.
Đối với các cơ quan quản lý cảng biển, tiêu chuẩn mới cung cấp một cơ sở tham chiếu quan trọng để xây dựng hoặc hoàn thiện quy định địa phương liên quan đến hoạt động làm sạch thân tàu. Trong khi đó, các hãng tàu và nhà cung cấp dịch vụ có thể sử dụng ISO 6319 như một công cụ để chuẩn hóa quy trình vận hành, giảm bớt sự khác biệt về thủ tục giữa các cảng và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động bảo dưỡng tàu.
Theo các chuyên gia hàng hải, việc áp dụng một tiêu chuẩn quốc tế thống nhất cho hoạt động làm sạch thân tàu sẽ giúp tạo ra “ngôn ngữ chung” giữa chủ tàu, cảng biển và cơ quan quản lý. Điều này không chỉ hỗ trợ việc kiểm soát biofouling hiệu quả hơn mà còn góp phần giảm phát thải nhiên liệu và bảo vệ đa dạng sinh học đại dương.
Bảo Linh









