Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc

author 06:25 22/01/2026

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là kỷ nguyên đất nước phát triển vượt bậc, giàu mạnh, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, cần nỗ lực, phát huy hiệu quả nguồn lực, vượt qua rào cản, điểm nghẽn để tạo chuyển biến thật sự mạnh mẽ về mọi mặt của đất nước.

Phiên họp trù bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV_Ảnh: TTXVN

1- Trong các bài viết và bài phát biểu gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ, với những thành tựu vĩ đại đã đạt được, với thế và lực đã tích lũy, với thời cơ và vận hội mới, chúng ta đã hội tụ đủ điều kiện, “tạo tiền đề, chuẩn bị về mọi mặt đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”(1). Đây chính là kỷ nguyên đất nước phát triển vượt bậc, xây dựng thành công nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, nhân dân hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Ở đây, kỷ nguyên được hiểu là một khoảng thời gian rất dài hoặc tương đối dài được xác định bởi những sự kiện đặc biệt, những đặc điểm lịch sử quan trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến sự phát triển của lịch sử, xã hội, của điều kiện tự nhiên, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Nhìn lại lịch sử, kể từ ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời (ngày 2-9-1945) đến nay, đất nước ta đã và đang trải qua 3 kỷ nguyên vô cùng quan trọng, đó là: kỷ nguyên giành lại độc lập cho dân tộc và đem lại tự do cho nhân dân; kỷ nguyên tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước và giờ đây đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành đất nước phát triển, có thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Ba kỷ nguyên trên luôn luôn gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình và tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong “kỷ nguyên giành lại độc lập cho dân tộc” sau gần 100 năm bị chủ nghĩa thực dân thống trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các đảng viên và toàn thể nhân dân, không phân biệt nam hay nữ, không phân biệt tộc người đa số hay thiểu số, không phân biệt ngành, nghề, giàu sang hay nghèo khó, tôn giáo, tuổi tác, không quản ngại hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải, vượt qua sự đàn áp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên ở một nước thuộc địa trong thế kỷ XX.

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, cả dân tộc ta lại tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ 9 năm vô cùng ác liệt, hết sức gian khổ, nhưng chỉ mới giành được tự do thật sự cho nhân dân ở một nửa đất nước; còn một nửa đồng bào ruột thịt vẫn phải chịu sự thống trị hà khắc của ngoại bang và bè lũ tay sai kéo dài hơn 20 năm. Ròng rã suốt 30 năm sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đến ngày 30-4-1975, “kỷ nguyên giành lại độc lập cho dân tộc” mới thật sự kết thúc bằng đại thắng mùa xuân lịch sử. Có thể khẳng định, cột mốc năm 1975 là cột mốc vô cùng hào hùng của kỷ nguyên độc lập, thống nhất đất nước.

Phải mất thêm mười năm tiếp theo sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, một kỷ nguyên mới thật sự được mở ra với dân tộc ta. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã đi vào lịch sử nước nhà như một cột mốc mở đầu cho thời kỳ đổi mới, cũng là mở ra “kỷ nguyên tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước” với sự đổi mới về nhiều mặt, với tiến bộ vượt bậc, thay đổi mạnh mẽ mang tính bước ngoặt trong tất cả lĩnh vực của đời sống, như kinh tế, chính trị, khoa học, công nghệ, tổ chức và quản trị xã hội, đồng thời cũng là kỷ nguyên mang lại sự thay đổi lớn lao trong con người mới.

Mở đầu cho “kỷ nguyên tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước”, Đảng ta xác định thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, phải trải qua nhiều bước đi, nhiều chặng đường. Đại hội VI của Đảng đã đề ra chủ trương và cách làm mới; đã nêu lên luận điểm chủ yếu đối với các vấn đề về cơ cấu kinh tế; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; chuyển cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh; mở rộng giao lưu kinh tế với thế giới; kết hợp chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất; mở rộng dân chủ và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đó là định hướng sáng suốt, thiết thực, khoa học về nhiều mặt, nhưng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kinh tế và là “phác thảo” đầu tiên mà quá trình tiếp theo dần dần từng bước được cụ thể hóa và hiện thực hóa trong thực tiễn.

Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu phần nào đã làm ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước tình thế đó, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thẳng thắn nhìn nhận: “Cuộc khủng hoản toàn diện, sâu sắc của các nước xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa xã hội trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy, từ nhiều hướng. Đáng tiếc là ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có hiện tượng dao động về lập trường, những khuynh hướng phủ định các thành tựu, từ đó dẫn đến phủ định con đường xã hội chủ nghĩa”(2). Tuy vậy, Đại hội VII của Đảng vẫn khẳng định niềm tin mạnh mẽ vào chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng, dân tộc ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, đó là: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(3). Nhiệm vụ đặt ra cho Đảng ta trong “kỷ nguyên tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước” là phải lãnh đạo nhân dân chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, thoát ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, xác lập vị thế quốc tế xứng đáng. Nhờ thực hiện hiệu quả đường lối đổi mới nên chúng ta đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quốc phòng, an ninh quốc gia được giữ vững và tăng cường, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(4). Như vậy, “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới thực sự tạo nền tảng, tạo đà cho những bước phát triển nhảy vọt cao hơn của đất nước”(5), đồng thời tạo tiền đề quan trọng về mọi mặt để đưa đất nước ta bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”; một kỷ nguyên đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc mang tính nhảy vọt, để trở nên giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Đối với nước ta, “khởi điểm của kỷ nguyên mới đã đến, chậm trễ là đánh mất cơ hội phát triển”(6). Cho nên, nếu trong thời chiến tranh chống đế quốc Mỹ, chúng ta thành công với “nghệ thuật biết thắng từng bước” để đưa đến thắng lợi cuối cùng, thì giờ đây chúng ta cũng phải nâng nghệ thuật “tranh thủ nắm bắt cơ hội” phát triển lên một tầm cao mới để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(7) như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong đợi.

Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới. Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

2- Kế thừa và phát huy những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được trong kỷ nguyên đổi mới, chúng ta vững tin để bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong kỷ nguyên vươn mình, chúng ta phải tạo được sự chuyển biến thật sự mạnh mẽ về mọi mặt, phải rất quyết liệt, hết sức nỗ lực, phát huy ở mức cao nhất, tốt nhất hiệu quả nội lực và lòng tự tin cao độ, tranh thủ ngoại lực để vượt qua mọi thách thức cũng như vượt qua chính mình, nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Cần mở rộng hội nhập quốc tế để tranh thủ tiếp thu những thành tựu tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu có thêm giá trị văn hóa Việt Nam, phát huy vai trò của văn hóa với tư cách là một trong những nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước.

Cũng cần ý thức rõ rằng, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thời cơ thuận lợi, song cũng không ít thách thức, trở ngại, khó khăn về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, giáo dục, quốc phòng, đối ngoại, quản trị quốc gia, quản lý phát triển xã hội,... Bởi vậy, trong mọi việc đòi hỏi chúng ta hết sức khéo léo chọn lọc, kiên trì, nhưng cũng cần kịp thời và nhanh chóng vượt qua để không bỏ lỡ thời cơ phát triển. Như Tổng Bí thư Tô Lâm nêu: “Thời cơ không tự đến mà chủ yếu là do ta chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ, nhạy bén đón bắt đúng thời cơ; vượt qua thách thức chính là thời cơ lớn nhất”(8).

Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được thời gian qua trên tất cả lĩnh vực đã mang đến một vị thế mới cho nước ta trên trường quốc tế. Những giá trị, nguồn lực tích lũy được trong kỷ nguyên đổi mới góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho bước chuyển mình lớn lao hướng tới kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Cần nhấn mạnh rằng, tình hình chính trị ổn định là tiền đề quan trọng bậc nhất để đất nước ta phát triển về mọi mặt. Cụ thể là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhờ sự ổn định chính trị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ, đồng lòng để đất nước có điều kiện tập trung phát triển kinh tế. Kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng nhanh, thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới; giai đoạn 2016 - 2020 tăng trưởng bình quân khoảng 6%/năm; năm 2024 đạt 7,09%, nâng quy mô GDP nền kinh tế lên khoảng 476 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 4.700 USD/người, tăng 377 USD so với năm 2023”(9). Số hộ nghèo giảm mạnh, không chỉ ở vùng đồng bằng, mà cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Thành tựu này đã được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển với tốc độ cao, chính sách đối ngoại rộng mở, chân thành đều là cơ sở quan trọng để nước ta thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, trong đó nhiều nước lớn đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; đồng thời, cũng là cơ sở quan trọng, có độ tin cậy cao để chúng ta thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia.

Về khoa học, công nghệ, để tránh tụt hậu xa hơn và để tiến kịp với thế giới, đòi hỏi chúng ta tiến thẳng lên hiện đại, vào lĩnh vực công nghệ cao; vào cách thức quản trị quốc gia hiện đại trên nền tảng xây dựng Chính phủ số, xã hội số, công dân số, từ đó thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra rất nhanh chóng trong các lĩnh vực then chốt, như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin... Bởi vậy, điều cần hết sức chú ý là thực sự phải lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính cho phát triển(10). Các lĩnh vực khoa học, công nghệ này được hình thành, tập trung phát triển ở nhiều nước đã kéo theo sự hình thành, tuy mới chỉ là bước đầu, một đội ngũ người lao động với tư duy số và kỹ năng số ngày càng được nâng cao. Để đất nước vươn mình mạnh mẽ, chúng ta cũng sẽ phải nằm trong xu thế chung đó. Cùng với sự hình thành đội ngũ người lao động với tư duy số và kỹ năng số là sự ra đời của công cụ sản xuất trong lực lượng sản xuất thời kỳ kỹ thuật số. Các công cụ sản xuất hiện đại hết sức quan trọng này thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thế giới, phản ánh giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại đã xuất hiện ở nước ta, góp phần thúc đẩy nhanh hơn và hiệu quả hơn quá trình vươn mình của dân tộc ta.

Nhìn ra thế giới, ở nhiều nước, kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng số, đang được đầu tư rất lớn và phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, mạng lưới viễn thông và internet băng thông rộng phủ sóng rộng khắp đã góp phần tạo nên nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế số và xã hội số. Cần nhận thức rõ rằng, muốn đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên đất nước và dân tộc vươn mình, một trong những động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất chính là chuyển đổi số.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thì văn hóa, trước hết là công nghiệp văn hóa, đang ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh hết sức khốc liệt về nhiều mặt như hiện nay, một dân tộc, một đất nước muốn vươn mình phát triển nhanh hơn và thật sự bền vững, ngoài việc phát triển khoa học, công nghệ, văn hóa phải thấm vào mọi mặt của đời sống xã hội; phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, trong đó có công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, văn hóa phải thấm sâu vào người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành, sáng tạo trong các lĩnh vực quan trọng của đất nước, như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật... Đất nước sẽ gặp vô vàn khó khăn và khó có thể vươn mình, cũng không thể bứt phá mạnh mẽ nếu văn hóa không phát huy được vai trò động lực và điều tiết sự phát triển xã hội, nếu như thiếu sự “soi đường cho quốc dân đi” của văn hóa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn ngay từ những ngày đầu lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng cũng nêu rõ yêu cầu “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(11).

Bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực trên, cần có đột phá về thể chế, gỡ bỏ điểm nghẽn về thể chế nhằm khơi thông nguồn lực bên trong và bên ngoài; đồng thời, cần nhanh chóng và kiên quyết loại bỏ rào cản trong cách thức tổ chức và quản lý, phát huy sức sáng tạo của con người.

Đặc biệt, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để thu hút, quy tụ, sử dụng nhân tài trong và ngoài nước, những người có đầy đủ phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, thật sự là hạt nhân trí tuệ của Đảng, Nhà nước và dân tộc.

Cần tiếp tục đổi mới công tác tổ chức - cán bộ, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ; kiên quyết không để lọt người yếu về năng lực chuyên môn, kém về phẩm chất đạo đức và thiếu bản lĩnh chính trị vào các cơ quan của hệ thống chính trị. Muốn vậy, phải hết sức dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến đánh giá của nhân dân. Chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, cần

nghiêm túc xem xét, rút kinh nghiệm cách thức, quy trình đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ các cấp nhằm chuẩn bị tốt hơn nữa công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng.

Để khắc phục rào cản, điểm nghẽn, cản trở sự phát triển của đất nước, giúp đất nước vươn mình, rất cần sự nỗ lực đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Một trong những rào cản đang ảnh hưởng, cản trở sự phát triển của đất nước là tình trạng tham nhũng, lãng phí tiền bạc, tài sản công, các loại tài nguyên thiên nhiên, lãng phí thời gian do quy định chồng chéo, không phù hợp thực tiễn,... đang diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực hoạt động, dưới nhiều hình thức khác nhau. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí... chưa có chuyển biến rõ rệt... Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi... Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(12).

Để phòng, chống tham nhũng, lãng phí thật sự hiệu quả, pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện; phải xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phải thực hiện nghiêm định hướng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống... không có vùng cấm, không có ngoại lệ”(13). Hơn lúc nào hết, để đất nước vươn mình, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, “nhất định chúng ta phải quyết tâm phòng, chống lãng phí gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(14).

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ta đã được mở ra. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đồng lòng, đồng tâm, quyết chí, tin tưởng đất nước ta sẽ phát triển vượt bậc, vươn mình thành công, trở nên giàu mạnh như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đó cũng là mục tiêu và quyết tâm của toàn thể dân tộc: xây dựng thành công nước Việt Nam độc lập, tự do, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để hoàn thành mục tiêu đó, cả dân tộc ta đã và đang quyết tâm vượt qua mọi rào cản, mọi điểm nghẽn và thách thức, nỗ lực phát huy hiệu quả nguồn lực để tạo nên chuyển biến thật sự mạnh mẽ về mọi mặt, đưa đất nước vươn mình, cất cánh trong kỷ nguyên mới.

----------------------

(1) GS. TS. Tô Lâm: “Khẩn trương đưa chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, đoàn kết, trách nhiệm, đổi mới, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tạo tiền đề, chuẩn bị về mọi mặt đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1.049, tháng 11-2024, tr. 7

(2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 108 - 109, 109

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25

(5) GS. TS. Tô Lâm: “Đảng Cộng sản Việt Nam: 95 năm tiên phong vì Tổ quốc và nhân dân”, Tạp chí Cộng sản, số 1.054, tháng 1-2025, tr. 9

(6) GS. TS. Tô Lâm: “Đảng Cộng sản Việt Nam: 95 năm tiên phong vì Tổ quốc và nhân dân”, Tlđd, tr. 10

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 624

(8) GS. TS. Tô Lâm: “Đảng Cộng sản Việt Nam: 95 năm tiên phong vì Tổ quốc và nhân dân”, Tlđd, tr. 10

(9) Xem: Bảo Ngọc: “Năm 2024 tăng trưởng hơn 7%, quy mô GDP nền kinh tế khoảng 476 tỷ USD”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 6-1-2025, https://tuoitre.vn/nam-2024-tang-truong-hon-7-quy-mo-gdp-nen-kinh-te-khoang-476-ti-usd-20250106103700155.htm

(10) GS. TS. Tô Lâm: “Phát biểu bế mạc hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII”, Tạp chí Cộng sản, số 1.046, tháng 9-2024, tr. 15

(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 115 - 116

(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 92, 93

(13) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 257

(14) GS. TS. Tô Lâm: “Chống lãng phí”, Tạp chí Cộng sản, số 1.048, tháng 10-2024, tr. 23

GS, TS NGUYỄN TRỌNG CHUẨN
Phó Chủ tịch Hội Triết học
(Theo Tạp chí cộng sản)
Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang